Bẻ gãy chiêu “mượn gió bẻ măng” của Trung Quốc trên Biển Đông

Thời sự | TS. Trần Công Trục - Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ | 09:14 24/04/2020

LDNA+ Từ đầu năm 2020 đến nay, trong khi nhân loại đang gồng mình chống lại kẻ thù vô hình, vô cùng nguy hiểm (được gọi với những tên khác nhau, như: Corona Virus, Covid-19, Vũ Hán Virus, China Virus…), tình hình Biển Đông vẫn có nhiều diễn biến phức tạp, thu hút sự quan tâm của dư luận, với những nhận định đánh giá khác nhau cần được nghiên cứu, phân tích một cách thận trọng và có trách nhiệm.

 
Mặc dù Trung Quốc phải hoãn cuộc tập trận quy mô lớn hàng năm ở Nội Mông với sự tham dự của tất cả các lực lượng quân đội do khủng hoảng của đại dịch Covid-19, nhưng vẫn không “bỏ quên” Biển Đông mà tiếp tục duy trì các hoạt động trên thực địa để củng cố sự hiện diện trên Biển Đông, cũng như đẩy mạnh tuyên truyền thông qua các bài viết nhằm vào Việt Nam và Mỹ, có thể kể đến:
- Cho các tàu cá, tàu dân binh vây ráp, uy hiếp quanh đảo Thị Tứ.

Tàu hải cảnh khổng lồ số hiệu 3901 của Trung Quốc. Giới quan sát quân sự nghi ngờ Trung Quốc đã đổi số hiệu tàu này thành 5901 sau vụ xâm phạm vùng biển Việt Nam năm 2019 (Ảnh: CHINA COAST GUARD)

 

- Công bố hoạt động của hai trạm nghiên cứu khoa học trên đá Subi và Chữ Thập ở quần đảo Trường Sa.
- Tổ chức tập trận chống tàu ngầm trên Biển Đông.
- Đưa số lượng lớn tàu cá và tàu hải cảnh xâm phạm vùng biển Natuna của Indonesia.
- Tổ chức đợt tuyên truyền, đặc biệt trong tháng 3 có nhiều bài viết vu khống “Tàu cá Việt Nam tăng cường xâm nhập vùng biển Trung Quốc để làm gián điệp”, “Biển Đông lại xảy ra xung đột, tàu cảnh sát biển Việt Nam khiêu khích tàu khu trục Trung Quốc”…
- Công bố quyết định thành lập các đơn vị hành chính cấp quận, huyện ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Đá Gạc Ma thuộc chủ quyền của Việt Nam bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng và cải tạo bất hợp pháp thành đảo nhân tạo (Ảnh:CSIS/AMTI)

 

- Di chuyển nhóm tàu khảo sát địa chất Hải Dương 08 xuống phía Nam Biển Đông, đi vào trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và hiện đang quanh quẩn ở phía ngoài vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia, Brunei, Indonesia…

Đường đi của tàu Hải Dương địa chất 8 ở Biển Đông cập nhật lúc 18 giờ ngày 15/4 (Ảnh: Tuổi Trẻ/Marine Traffic)

 

Mượn gió...
Dịch viêm phổi Covid-19, bắt nguồn từ Vũ Hán, từ cuối năm 2019, rồi chỉ sau một thời gian ngắn, nhanh chóng lan rộng ra hầu khắp các quốc gia trên thế giới, trở thành đại dịch nguy hại và khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Câu hỏi được đặt ra là: con virus nguy hiểm, kẻ thù vô hình biến đổi khó lường này là do thiên tạo hay nhân tạo? Tại sao cho đến thời điểm hiện nay, loài người thông minh, dù đã sống trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển cực cao, vẫn vô phương chống đỡ, đến nỗi mỗi ngày, có đến hàng ngàn, hàng vạn người xấu số phải nhắm mắt xuôi tay trong đau khổ, ghẻ lạnh, cô đơn và điều không kém phần nghiêm trọng là nhiều quốc gia buộc phải công bố tình trạng giới nghiêm, phong tỏa, cách ly xã hội, sản xuất đình đốn, ngưng trệ… buộc phải dốc hết nguồn lực dự trữ quốc gia để đối phó với “cuộc chiến tranh hủy diệt không tiếng súng” này?
Hiện nay, vẫn tồn tại hai luồng ý kiến khác nhau: kẻ thì cho rằng con virus covid-19 là do thiên tạo, người thì cho rằng là do nhân tạo, với những lập luận suy đoán khác nhau. Điều này, có lẽ sẽ phải cần thêm thời gian và cần có nhiều chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và trung thực mới giúp nhân loại giải mã được bí mật thế kỷ này.
Tuy nhiên, có một thực tế là dịch bệnh bùng phát tại Vũ Hán, Trung Quốc, vào cuối năm 2019 mà mãi đến mấy tháng sau, người ta mới nhận diện được mức độ khủng khiếp của đại dịch này, và khi các quốc gia nhận ra sự nghiêm trọng của vấn đề thì dịch bệnh đã phát tán trở thành đại dịch toàn cầu? Vì vậy, dư luận rất hoài nghi trước sự chậm trễ, che giấu thông tin của nhà chức trách Trung Quốc và bất bình, đặt nhiều câu hỏi về thái độ, phát ngôn tiền hậu bất nhất của lãnh đạo WHO, nhất là tính khách quan trong các nhận định mà tổ chức này đưa ra, dường như chỉ để bảo vệ các quan điểm chính thức của Trung Quốc.
Đến nỗi đã có nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nhà hoạt động chính trị, xã hội, pháp lý… của nhiều quốc gia, kêu gọi và đang tiến hành thủ tục để kiện ra các cơ quan tài phán về cách hành xử vô trách nhiệm của nhà đương cục tại quốc gia xuất phát của con virus này. Hoa Kỳ cũng đã tuyên bố xem xét trách nhiệm và rút bớt tài trợ cho WHO.
Cho dù có thể có những lý do khách quan, chủ quan như thế nào đi chăng nữa, thì có một sự thật là “cuộc đại chiến” khốc liệt đã nhanh chóng lan rộng, không thể kiểm soát được mà nguyên nhân của nó là xuất phát từ tình trạng chủ quan, mất cảnh giác do thiếu thông tin hoặc thông tin không kịp thời, bị bóp méo một cách có chủ ý. Vì vậy, nhiều người cho rằng chỉ riêng việc che giấu thông tin về dịch bệnh Covid-19, phải chăng Trung Quốc đang “mượn gió” để….
...“Bẻ măng”
Nếu đúng như nhận định nói trên thì có thể nói đây được coi là một “đòn phản công” khá hiểm mà Trung Quốc nhằm vào Mỹ và đồng minh phương Tây, đối thủ đã gây ra cuộc chiến tranh thương mại rất bất lợi cho Trung Quốc, nếu không muốn nói là đã gây tai họa cho Trung Quốc không chỉ về mặt kinh tế? “Đòn phản công” này hiện đang phát huy tác dụng, không chỉ gây nguy hại cho nước Mỹ mà còn gây thảm họa cho nhân loại, không những trước mắt mà còn cả về lâu dài. Biển Đông cũng đang và sẽ chịu tác động của “đòn phản công” thâm hiểm này. Và, vì vậy có nhiều khả năng trong thời gian tới, nhất là thời kỳ hậu đại dịch Covid-19, Trung Quốc sẽ triển khai:
1. Sử dụng sức mạnh để chiếm đóng thêm các thực thể địa lý, hoặc tạo ra tại hiện trường “sự đã rồi” nằm trong khu vực quần đảo Trường Sa, trong vùng đặc quyền kinh tế và trên thềm lục địa của các nước xung quanh Biển Đông nhằm hợp thức hóa yêu sách “lưỡi bò”, gây sức ép buộc các nước phải chấp nhận yêu sách phi lý của họ.
2. Tiếp tục đầu tư xây dựng các căn cứ quân sự trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nấp dưới hình thức dân sự, như: đèn biển, trạm nghiên cứu KHKT biển… không chỉ phục vụ cho mục tiêu an ninh quốc phòng, mà trước mắt là nhằm vào các mục tiêu như:
- Về chính trị: Mê hoặc, mua chuộc, đánh lừa dư luận, che đậy các hoạt động phi pháp của họ; khẳng định các hoạt động của họ là hợp tình, hợp lý, nhằm mục đích nhân đạo, vì cuộc sống cộng đồng…
- Về pháp lý: Tiếp tục tạo cơ sở để biện minh rằng các thực thể mà họ đánh chiếm là thích hợp cho đời sống con người và có đời sống kinh tế riêng, cho nên có quyền mở rộng phạm vi biển “kế cận”, “liên quan” của chúng đến 200 hải lý;
- Về kinh tế: Tìm cách “xí phần” nguồn lợi biển hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước xung quanh Biển Đông, theo chủ trương “chủ quyền thuộc Trung Quốc, gác tranh chấp cùng khai thác”…; gạt bỏ các đối tác là các công ty của các nước đang hợp tác với các quốc gia trong khu vực...; tạo ra tình huống “đục nước béo cò”; gây ra môi trường kinh doanh, sản xuất bất ổn làm suy yếu hoạt động kinh tế của các quốc gia trong khu vực để dễ bề thao túng, giật giây…, buộc họ phải lệ thuộc vào Trung Quốc cả về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng…
 
Ứng xử kịp thời, mạnh mẽ
Nhận thức được những toan tính nói trên, các quốc gia có liên quan đều đã có những ứng xử kịp thời, mạnh mẽ và bước đầu phát huy được hiệu quả.
Mỹ tiếp tục duy trì sự hiện diện trên Biển Đông:
- Tiến hành các hoạt động tự do hàng hải (2 lần tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa);
- Tổ chức tập trận trên Biển Đông.
- Kịp thời và mạnh mẽ lên tiếng phản đối các hoạt động phi pháp của Trung Quốc, ủng hộ lập trường và cách hành xử của các quốc gia trong khu vực Biển Đông nhằm bảo vệ chủ quyền và các quyền hợp pháp của họ trước hành động phi pháp của Trung Quốc.
Các nước trong khu vực cũng đã không ngồi yên:
- Tổng thống Indonesia thị sát Natuna, điều lực lượng quân sự và tàu cá hùng hậu để đối phó với tàu cá Trung Quốc.
- Malaysia tuyên bố coi việc nộp bản đệ trình một phần ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý tại Biển Đông là biện pháp nhắc nhở Trung Quốc về giá trị của UNCLOS.
- Philippines lưu hành công hàm tại Liên hợp quốc phản đối yêu sách của Trung Quốc; đơn phương hủy bỏ thỏa thuận thăm viếng quân sự với Mỹ.
Việt Nam: Triển khai đấu tranh ngoại giao, pháp lý, truyền thông để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình trong Biển Đông; đặc biệt:
+ Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam gần đây liên tục lên tiếng phản đối các hành động của Trung Quốc đối với yêu sách đường lưỡi bò, lập trạm nghiên cứu trên các thực thể mà họ đã chiếm đóng trái phép tại quần đảo Trường Sa.
+ Phái đoàn Thường trực Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam gửi Công hàm lên Tổng thư ký Liên hợp quốc ngày 30/3/2020 phản đối nội dung Công hàm của Trung Quốc gửi Liên hợp quốc để phản đối Hồ sơ ngày 12/12/2019 của Malaysia và Công hàm ngày 6/3/2020 của Philippines có liên quan đến vấn đề xác định ranh giới ngoài thềm lục địa vượt quá 200 hải lý…
Đấu tranh bẻ gãy chiêu “mượn gió bẻ măng”
Thứ nhất: Tình hình thế giới nói chung và Biển Đông nói riêng, sẽ tiếp tục diễn biến căng thẳng, phức tạp, nhất là thời kỳ hậu đại dịch Covid-19. Cho nên, cộng đồng khu vực và thế giới cần “cùng nhau chia sẻ và kiên trì thực hiện các giá trị chung về tự do thương mại, tạo thuận lợi cho đầu tư, không để các chuỗi cung ứng bị đứt quãng; sớm bình thường hóa các hoạt động giao thương và lưu chuyển xuyên biên giới khi đã kiểm soát được dịch… nhằm tận dụng mọi động lực để phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội bao trùm và bền vững trong toàn khu vực…” (trích bài viết: “Hợp tác ASEAN đẩy lùi COVID-19: Đoàn kết là sức mạnh!” của Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh).
Thứ hai: Trước những diễn biến phức tạp, căng thẳng đó, để có được phương án đấu tranh và hành xử có hiệu quả, trước hết cần phải hết sức thận trọng nghiên cứu đánh giá mọi tình huống một cách thật sự khách quan, khoa học. Cho nên phải : “…phân tích, dự báo có căn cứ, cơ sở khoa học, tình hình thế giới và trong nước, nhất là tình hình Biển Đông; chỉ rõ các khả năng có thể xảy ra trong thời gian tới, lường trước những thời cơ, thuận lợi cần nắm bắt, những khó khăn, thách thức cần phải nỗ lực vượt qua…”(Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ 11, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng). Muốn thực hiện được chỉ thị quan trọng này, thiết nghĩ chúng ta cần tiếp tục công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao kiến thức cơ bản về chính trị, pháp lý liên quan đến việc xác lập và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển theo quy định của Luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982. Nếu kiến thức về biển đảo của cán bộ và nhân dân được nâng cao thì mọi phương án đấu tranh và phương cách hành xử sẽ thích hợp, hiệu quả và cũng chính là yếu tố cơ bản tạo lập và củng cố niềm tin chiến lược, cơ sở để gắn kết khối đoàn kết vững chắc trong cộng đồng. Ví dụ, sở dĩ các nước trên thế giới và khu vực, nhất là Hoa Kỳ và đặc biệt là Philippines, đã kịp thời lên tiếng ủng hộ lập trường của Việt Nam và lên án mạnh mẽ những hoạt động phi pháp của Trung Quốc trong Biển Đông thời gian vừa qua, phải chăng, nội dung trong các tuyên bố của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao gần đây, đặc biệt là nội dung Công hàm ngày 30/3/2020 của Phái đoàn thường trực Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Liên hợp quốc gửi Tổng thư ký Liên hợp quốc, đã thể hiện lập trường, quan điểm pháp lý một cách chính xác, rõ ràng, cụ thể hơn so với trước đây?
Thứ 3: Hơn lúc nào hết, đoàn kết luôn luôn là sức mạnh vô địch phải được duy trì và phát huy: đoàn kết trong từng quốc gia, đoàn kết trong cộng đồng khu vực và quốc tế: “… chúng ta thấu hiểu tầm quan trọng của tư duy cộng đồng và hành động cộng đồng. Đó cũng là trách nhiệm chung và vai trò trung tâm của ASEAN trong đóng góp vào việc bảo đảm một thế giới và khu vực hậu đại dịch sẽ tiếp tục hội nhập, phát triển thịnh vượng và bền vững hơn. Trong ba tháng qua, những nỗ lực của Việt Nam trong vai trò Chủ tịch ASEAN đã thể hiện đúng tinh thần gắn kết và chủ động thích ứng.

(0) Bình luận
Tin mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO