Bài thi viết về hoạt động Công đoàn Nghệ An:Chừng nào người lao động đảm bảo cuộc sống bằng lương

18/06/19 09:54
LDNA+
Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Lao động “Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ”.
 
Tổ chức Lao động quốc tế ILO cho rằng “Tiền lương đủ sống là tiền lương đủ để đảm bảo cho người lao động và gia đình họ có cuộc sống cơ bản bền vững phù hợp với mức độ phát triển kinh tế mỗi quốc gia, vùng, địa phương. Là tiền lương nhận được đủ để trang trải các nhu cầu cơ bản đảm bảo cho cuộc sống của NLĐ và gia đình, kể cả các khoản dự phòng. Tiền lương đủ sống là tiền lương đủ để đảm bảo cho người lao động và gia đình được tính theo thời gian làm việc tiêu chuẩn mà không tính làm thêm giờ”.

Người lao động mong muốn đảm bảo cuộc sống tối thiểu bằng lương - Ảnh: Hoàng Yến

Theo khảo sát thực tế của Tổng LĐLĐ Việt Nam đối với khoảng 30.000 người lao động ở gần 150 doanh nghiệp khắp cả nước cho thấy thu nhập hiện nay của người lao động (không kể ăn ca) trung bình là gần 5.530.000 đồng (bao gồm cả làm thêm giờ). Đa số người lao động cho biết thu nhập cả làm thêm giờ cơ bản chỉ đủ trang trải chi phí đơn giản, tối thiểu hằng ngày, đời sống gặp nhiều khó khăn.

Thực tế theo khảo sát của Công đoàn Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An, thu nhập của công nhân trong các khu công nghiệp hiện nay với mức thu nhập bình quân 4,4-5 triệu đồng/người/tháng, bao gồm cả làm tăng ca.
Chị Hoa và anh Tuấn là công nhân Khu công nghiệp Bắc Vinh, chia sẻ: “Nếu không có làm thêm, lương hai vợ chồng khoảng 7 triệu đồng (bao gồm lương và các khoản phụ cấp) thì không đủ sống. Tính bình quân cả làm thêm hai vợ chồng thu nhập khoảng 9 triệu đồng/tháng. Hiện tại chúng em thuê nhà trọ, chi phí hàng tháng 2 vợ chồng và 2 con thực sự là phải siêu tiết kiệm, chắt chiu. Chi phí sinh hoạt bao gồm tiền ăn, tiền xăng xe, tiền mua đồ dùng cần thiết và hàng tá loại chi phí không tên khác… Phần chi phí này chiếm phần lớn trong tổng chi tiêu của gia đình và nó có thể có sự biến động hàng tháng.
“Những chi tiêu ăn uống, sinh hoạt trong gia đình thường cộng lại từ những khoản nhỏ lẻ nên nếu mình không chú ý và “kỹ tính” thì dễ bị thâm hụt “ngân sách” hàng tháng của gia đình.
Chúng em đang thuê nhà ở: 600.000 đồng/phòng. Điện, nước, điện thoại: 500.000 đồng. Ăn uống kham khổ đủ lượng, không đủ chất bình quân gần 27.000 đồng/người/ngày, cũng đến 3,2 triệu đồng/4 người/tháng. Xà phòng, dầu rửa bát, kem đánh răng và các khoản chi tiêu lặt vặt: 500.000 đồng. Xăng xe, sửa xe, đi lại về thăm nhà: 500.000 đồng. Sắm sửa quần áo: 700.000 đồng. Thăm hỏi, hiếu hỷ: 800.000 đồng. Tiền học của con trẻ: 1,5 triệu đồng. Giải trí là khoản thỉnh thoảng đưa con đi chơi, giao lưu bạn bè, chúng em quá “thắt lưng buộc bụng”, đây là nhu cầu hoàn toàn tự nhiên của con người ít nhất cũng: 500.000 đồng đến 700.000 đồng. Tổng cộng 8,8-9 triệu đồng/tháng. Chưa tính thỉnh thoảng mua sữa và quà vặt cho con.
Hiện tại tháng nào tiêu sạch tháng đó và lúc nào cũng cảm thấy lo thiếu, chật vật, ăn uống thiếu dinh dưỡng, không biết bao giờ mới có tiền tích luỹ để cho dự phòng ốm đau, bệnh tật, còn làm nhà thì chỉ là “giấc mơ”. Vợ chồng chỉ xoay xở lo không nổi cho gia đình mình nên cũng không thể lo toan cho bố mẹ già ở quê”.
So sánh tiền lương tối thiểu và tiền lương đủ sống còn là khoảng cách khá xa. Theo Nghị định 157/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018, quy định mức lương tối thiểu vùng áp 4 mức như sau: Mức 4.180.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I; mức 3.710.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II; mức 3.250.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III; mức 2.920.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV.
Ông Vương An Nguyên - Chủ tịch Công đoàn Khu kinh tế Đông Nam chia sẻ: “Hầu hết doanh nghiệp trong khu công nghiệp đang áp dụng trả lương căn cứ mức lương tối thiểu vùng hoặc cao hơn hai đến ba trăm nghìn đồng, ngoài ra các công ty có thêm phần phụ cấp xăng xe, nhà ở, chuyên cần… tuỳ theo từng công ty”. Tổng thu nhập bình quân, không làm thêm tầm 3,5 - 4 triệu đồng/tháng. Thu nhập bình quân 4,4 đến 5 triệu đồng /người/tháng, bao gồm cả làm tăng ca. Với mức thu nhập như thế công nhân vẫn mong được làm thêm giờ. Đơn vị nào không có làm thêm giờ thì người lao động muốn chuyển công ty khác để có thêm thu nhập”.
Tổng LĐLĐ Việt Nam cũng đã thống kê, tổng thể các cuộc tranh chấp, đình công xảy ra thời gian vừa qua thì trên 80% nguyên nhân xuất phát từ vấn đề tiền lương (như lương tối thiểu, thang lương, bảng lương, phụ cấp lương, tiền lương làm thêm giờ, tiền thưởng hoặc có liên quan đến tiền lương như định mức lao động, nâng bậc lương, khấu trừ tiền lương…).
Vì vậy, vấn đề tiền lương thực sự là chưa đảm bảo theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Lao động: “Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ”.
Giải pháp nào bảo đảm tiền lương cho người lao động đủ sống.
1- Về phía Nhà nước: Cần tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền lương phù hợp với nguyên tắc thị trường và quy định quốc tế, đảm bảo tiền lương tối thiểu vùng phù hợp mức sống, nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; có chính sách đào tạo công nhân có tay nghề, công nhân công nghệ đảm bảo chất lượng và đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Nhà nước cần hỗ trợ mạnh trong xây dựng chính sách nhà ở xã hội để số đông người lao động có cơ hội mua nhà ưu đãi hoặc thuê nhà giá rẻ, nhằm ổn định cuộc sống lâu dài.
2- Về doanh nghiệp: Theo bà Nguyễn Thị Hằng, Giám đốc Công ty CP tư vấn Toàn Tâm - chuyên gia cao cấp tư vấn về nhân sự, tiền lương cho rằng: “Vấn đề tiền lương và năng suất lao động cần phải gắn chặt với nhau, tăng lương là đi kèm với tăng năng suất lao động. Vậy, làm thế nào để tăng năng suất, đồng thời tăng khả năng, năng lực cạnh tranh đó là “bài toán” mà mỗi doanh nghiệp cần phải giải bằng cách thường xuyên đồng bộ trong việc cải tiến công nghệ, loại bỏ các công đoạn thừa, loại bỏ các thao tác lao động thừa, loại bỏ các hao phí, lãng phí, tổ chức lao động khoa học đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục, thuận lợi cho quá trình lao động nhằm tăng thời gian tác nghiệp trực tiếp tạo ra sản phẩm, đào tạo kỹ năng làm việc của người lao động thuần thục, chuyên nghiệp. Quá trình cải tiến tăng năng suất lao động phải thực hiện thường xuyên”.
3- Về Công đoàn: Doanh nghiệp và công đoàn, tổ chức đại diện người lao động cần có năng lực trong việc thương lượng, thoả thuận định mức lao động, thang, bảng thương, tiền lương, thưởng,… Thương lượng tăng tiền lương, thưởng phải gắn với tăng năng suất và kết quả lao động của người lao động, được đưa vào trong thoả ước lao động tập thể hoặc trong quy chế của doanh nghiệp. Vai trò công đoàn là thường xuyên, liên tục phát động phong trào thi đua cải tiến sản xuất; lấy ý kiến và phát huy trí tuệ tập thể người lao động, làm thế nào để tăng năng suất lao động, làm thế nào để cải tiến, giảm thiểu hàng lỗi, giảm thiểu lãng phí, loại bỏ các khâu thừa trong sản xuất. Nếu công đoàn chỉ đòi tăng lương trong khi năng suất lao động không tăng, sản xuất kinh doanh không phát triển, ý thức người lao động, tác phong công nghiệp còn kém thì thương lượng tăng lương không thể khả quan.
Minh Nguyệt
Từ khóa: Công đoàn
Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

tối thiểu 10 chữ tiếng Việt có dấu không chứa liên kết

Tin cùng chuyên mục
Tin Mới Nhất
lên đầu trang