Không có việc làm, vẫn phải đóng BHXH có đúng?

Pháp luật | 07:03 26/03/2017

Trong tuần qua, Văn phòng Tư vấn pháp lu&acirc%3ḅt Báo Lao Đ&ocirc%3ḅng nh&acirc%3ḅn được m&ocirc%3ḅt số câu hỏi của bạn đọc liên quan đến vi&ecirc%3ḅc vẫn phải đóng BHXH khi không có vi&ecirc%3ḅc làm, chế đ&ocirc%3ḅ thai sản, trách nhi&ecirc%3ḅm bồi thường của người lao đ&ocirc%3ḅng khi thử vi&ecirc%3ḅc và cách làm di chúc. Báo Lao Đ&ocirc%3ḅng trích đăng câu hỏi và trả lời.  

Không được vừa nghỉ phép, vừa nghỉ dưỡng sức sau thai sản

Bạn đọc số điện thoại 01672975XXX, gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961360559, hỏi: Vợ tôi nghỉ chế độ thai sản được 6 tháng thì đi vào làm việc. Nhân viên nhân sự bảo chưa hết ngày nghỉ, chưa được đi làm, do đó vợ tôi về nghỉ thêm 20 ngày. Khi vợ tôi đi làm lại thì Cty nói đã nghỉ quá thời gian thai sản. Sau đó, Cty chuyển cho vợ tôi một khoản tiền nghỉ dưỡng sức sau thai sản. Mới đây, Cty lại nói những ngày đã nghỉ thêm phải tính là ngày phép năm và yêu cầu vợ tôi trả lại tiền dưỡng sức. Cty làm như vậy đúng?

Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Điều 34 Luật BHXH 2014 quy định về thời gian hưởng chế độ khi sinh con như sau: 1. Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 6 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng.

Điều 41 Luật BHXH quy định về Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản: 1. Lao động nữ ngay sau thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều 33 (thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý – PV), khoản 1 hoặc khoản 3 (con chết sau khi sinh – PV), Điều 34 của Luật này, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sức khoẻ chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 5 ngày đến 10 ngày. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước. 2. Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe quy định tại khoản 1 Điều này do người sử dụng lao động (NSDLĐ) và BCH CĐCS quyết định, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa thành lập CĐCS thì do NSDLĐ quyết định. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được quy định như sau: Tối đa 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên; Tối đa 07 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật; Tối đa 05 ngày đối với các trường hợp khác. 3. Mức hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

Tiền nghỉ dưỡng sức sau thai sản là do cơ quan BHXH chi trả. Do đó, nếu vợ bạn phải tính những ngày nghỉ thêm là nghỉ phép (có hưởng lương) do Cty chi trả, thì phải trả lại tiền nghỉ dưỡng sức do BHXH chi trả, vì cùng một lúc không thể vừa nghỉ phép và nghỉ dưỡng sức sau thai sản được.

Thử việc không đạt, có phải bồi thường?

Bạn đọc số điện thoại 0919777XXX, gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961360559, hỏi: HĐLĐ thử việc của tôi với Cty là 3 tháng, trong đó có ghi điều khoản tôi chịu trách nhiệm về việc gây ra tổn thất. Nếu hết thời gian thử việc, tôi nghỉ thì có phải chịu trách nhiệm gì không?

Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Điều 27 BLLĐ 2012 quy định thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 1 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây: Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên; Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ; Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác. Điều 29 BLLĐ 2012 quy định: Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì NSDLĐ phải giao kết HĐLĐ với NLĐ. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận. Do đó, việc Cty thử việc với bạn 3 tháng là sai. Trong thời gian thử việc, bạn không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.

NLĐ phải đóng toàn bộ tiền tham gia BHXH có đúng?

Bạn đọc số 0973317XXX, gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961360559, hỏi: Cty không có việc, chúng tôi phải ở nhà nhưng hằng tháng vẫn phải đóng các khoản BHXH, BHYT, BHTN tổng cộng 32,5% để sau này được nhận lương hưu đúng không?

Bạn đọc số 0914772XXX, gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961360559, hỏi: Trước đây, tôi có xin đơn vị cho đi học tự túc 4 năm không hưởng lương. Hằng tháng, tôi vẫn gửi tiền cho đơn vị nhờ đóng BHXH, nhưng bây giờ mới phát hiện đơn vị không đóng. Tôi có thể truy đóng được không?

Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Khoản 2, Điều 89 Luật BHXH 2014 quy định: Đối với NLĐ đóng BHXH theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động. Khoản 2, Điều 21 Luật BHXH 2014 quy định về trách nhiệm của NSDLĐ: Đóng BHXH theo quy định tại Điều 86 (tổng cộng 22% cho quỹ BHXH, BHYT, BHTN – PV) và hằng tháng trích từ tiền lương của NLĐ theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này (tổng cộng 10,5% cho quỹ BHXH, BHYT, BHTN – PV) để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH. Như vậy, về nguyên tắc, BHXH chỉ thu đối với người có việc làm và được trả lương. Do giữa các bạn và Cty thỏa thuận đóng giùm BHXH để sau này hưởng lương hưu nên phụ thuộc vào ý chí của hai bên. Đây là thỏa thuận trái luật, nếu các bạn khiếu nại thì sẽ bị vô hiệu thỏa thuận nói trên. Đối với trường hợp bạn đọc gửi tiền nhờ đơn vị đóng giùm BHXH, nhưng thực tế không được đóng, bạn có thể kiện đơn vị để đòi lại số tiền trên hoặc tố cáo đến cơ quan công an để điều tra về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Viết di chúc thế nào?

Bạn đọc số 0908815XXX, gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961360559, hỏi: Tôi có hai con gái, một ở xa, một ở gần. Nay tôi muốn viết di chúc để lại tài sản cho con gái ở xa có được không? Thủ tục thế nào? Có cần có ý kiến của con gái ở gần không?

Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: 1. Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. 2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người lập di chúc có quyền sau đây: Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; Phân định phần di sản cho từng người thừa kế; Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản... Điều 635 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc.

Do đó, bạn có thể tự mình hoặc nhờ người khác viết di chúc, sau đó đi công chứng hoặc chứng thực. Việc viết di chúc không cần phải có ý kiến của con bạn. 

Tin bài liên quan

  • Đối tượng nào thuộc diện tinh giản biên chế?
  • Xảy ra TNLĐ chết người, phải xử lý làm sao?
  • Cách nào để hưởng lương hưu khi chưa đủ số năm đóng BHXH?
  • Nghỉ việc đúng luật hưởng những chế độ gì?
Theo laodong.com.vn

(0) Bình luận
Tin mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO