Người Đan Lai và chuyến di cư lịch sử

Đời sống & Lao động | Tiến Đông | 16:22 10/04/2020

LDNA+ Chuyển đến nơi ở mới, người Đan Lai dần “bước ra ánh sáng” và “đứng vững” trên đôi chân của mình bằng hạt lúa, củ khoai và cả những mảng rừng rộng hàng héc ta, chứ không như cuộc sống tạm bợ có gì ăn nấy thời sống nơi “sơn cùng thuỷ tận”, giữa lòng rừng Pù Mát…

 
Chuyến di cư lịch sử
Cách đây hơn 20 năm khi đi thực địa để nghiên cứu những giá trị thiên nhiên đồng thời hỗ trợ lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Pù Mát là khu dự trữ sinh quyển thiên nhiên, các chuyên gia châu Âu sau khi chứng kiến cảnh người Đan Lai chen chúc nhau sống trong vùng lõi của rừng Pù Mát, chủ yếu sống bằng nghề săn bắt, hái lượm, quần cư và hôn nhân cận huyết, họ rất lo lắng. Họ vừa lo cho sự phát triển của cộng đồng này trước nguy cơ thoái hóa nòi giống, vừa lo cho sự bảo tồn của rừng Pù Mát. Kể từ đó kế hoạch cho một cuộc di cư, đưa người Đan Lai ra khỏi vùng lõi của rừng Pù Mát được bắt đầu.
Thời điểm đầu những năm 2000, sau một thời gian khảo sát, đánh giá, UBND tỉnh đã có quyết định di dời 36 hộ dân đầu tiên trên tổng số hơn 200 hộ dân Đan Lai đang sống tại các vùng Khe Khặng, Khe Búng của vùng lõi rừng Pù Mát ra các điểm tái định cư Tân Sơn, Cửa Rào ngay tại trung tâm xã Môn Sơn. Đến năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 280-2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án bảo tồn, phát triển bền vững tộc người Đan Lai tại vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát. Đề án này như một sự nhìn nhận công cuộc “giải cứu” người Đan Lai không còn là công việc bó hẹp của riêng huyện Con Cuông và tỉnh Nghệ An mà đã có sự quan tâm của Chính phủ. Theo đề án này thì trong hơn 170 hộ dân Đan Lai còn lại đang sống trong rừng sâu (trừ 36 hộ đã di chuyển ra trước), sẽ tổ chức di chuyển 146 hộ đến nơi mới và ổn định 30 hộ tại nơi cũ, đồng thời sẽ tiếp tục hỗ trợ bằng các chính sách cho 36 hộ dân đã ra từ trước.
Ông Vi Văn Sơn - Chủ tịch UBND huyện Con Cuông cho biết: Khó khăn lớn nhất là việc tìm được một địa điểm phù hợp mà người dân đồng thuận đến ở. Người Đan Lai có tập quán sinh sống gần sông, suối, gần rừng, xung quanh nhà phải có vườn. Ban đầu huyện đã đưa những già làng, trưởng bản của người Đan Lai xuống khảo sát tận Thanh Chương, Anh Sơn, nhưng họ không chấp nhận. Sau đó huyện quyết định chọn các điểm tái định cư trên địa bàn, có địa thế gần với nơi ở cũ của người dân thì họ mới đồng ý.
Ngay sau khi Đề án 280 được thực hiện, năm 2007, 42 hộ dân được đưa ra tại các điểm tái định cư Thạch Sơn ở xã Thạch Ngàn cách nơi ở cũ khoảng 60km và mới đây 35 hộ dân nữa tiếp tục được đưa ra điểm tái định cư Bá Hạ cũng ở xã Thạch Ngàn vào năm 2019. Sau một thời gian dài, Đề án 280 có thể sẽ không được thực hiện trọn vẹn khi mà số hộ dân Đan Lai đưa ra các điểm tái định cư chưa đạt như kế hoạch. Hiện tại số hộ dân sống trong vùng lõi của rừng Pù Mát cũng đã tăng lên tương đương với thời điểm trước khi những hộ đầu tiên di chuyển. Chưa kể, sự đầu tư cơ sở hạ tầng vào khu vực này cũng khiến đời sống người dân được nâng lên. Tuy nhiên, với những hộ dân Đan Lai đã di chuyển, thực sự đó là một cuộc cách mạng.
Nghèo mãi cũng xấu hổ
Tính đến hiện tại số hộ dân Đan Lai ra khỏi rừng Pù Mát cơ bản đã được chốt lại với hơn 110 hộ. Được đến nơi ở mới, tiếp xúc với nhiều người dân ở các khu vực khác nhau đã làm thay đổi tư duy, lối sống của người Đan Lai. Họ không còn rụt rè, co cụm trong không gian họ tộc của riêng mình, mà cởi mở, giao lưu văn hoá với các dân tộc khác.
Ông Ngân Xuân Nhung - Chủ tịch UBND xã Thạch Ngàn cho biết, từ 77 hộ ban đầu, đến nay trên địa bàn xã đã có 89 hộ dân Đan Lai với 375 nhân khẩu, sống chủ yếu ở 2 bản Thạch Sơn và Bá Hạ. Hiện tại chỉ còn 35 hộ dân ở Bá Hạ mới ra năm 2019 còn đang phải nhận trợ cấp lương thực hàng tháng và chờ chia ruộng để canh tác. Còn các hộ dân ra trước từ năm 2007 cơ bản đều đã tự túc được lương thực, nhiều hộ đã biết làm ăn kinh tế, con cái được học hành, thậm chí có hộ đã tự nguyện làm đơn xin ra khỏi hộ nghèo.
Từ trung tâm xã, chúng tôi di chuyển hơn 20km đến với bản Thạch Sơn. Con đường đến với bản tái định cư của người Đan Lai quanh co dưới chân núi, hai bên, những vạt keo mới trồng đã vươn lên xanh tốt. Chỉ tay về phía xa xa, anh Nhung bảo tôi, cả mảng xanh kia đều là keo của bà con Đan Lai cả đấy. 13 năm kể từ ngày những người Đan Lai được đưa đến đây họ đã trải qua gần 3 mùa keo, và biết bao mùa mía, sắn. Họ đã thuộc hết những tên đồi, tên khe và tự hào với quê hương thứ 2 của mình.
Chúng tôi đến nhà ông La Hồng Thám ở bản Thạch Sơn, người đã tự nguyện viết đơn xin ra khỏi hộ nghèo. Sự so sánh về chế độ, về suất quà với các hộ đang nghèo không khiến gia đình ông Thám lăn tăn.

Nghèo mãi cũng xấu hổ nên gia đình ông Thám đã làm đơn xin ra khỏi hộ nghèo - Ảnh: Tiến Đông

 

Sau 13 năm ra vùng đất mới, điều dễ nhận ra về cái chất Đan Lai trong ông Thám có lẽ làn da bánh mật cùng hàm răng đen vì thói quen ăn trầu kẹp thêm ít vỏ cáu mà không sao bỏ được. So với những người Đan Lai cùng quê, ông Thám năng động hơn trong cách làm kinh tế. Ngay cả chuyện lấy vợ, có lẽ ông cũng là người Đan Lai đầu tiên lấy vợ người Kinh. Vợ ông là bà Nguyễn Thị Hương, ngày trước thường đem ít hàng xén vào buôn bán ở Môn Sơn, cũng gặp ông Thám mang ít con cua, con cá ra chợ bán sau khi đi đánh lưới về. Thế là nên duyên vợ chồng. Hỏi bà có chê gốc gác Đan Lai của ông không, bà Hương chỉ cười “được như ông hiếm lắm”. Ông Thám bà Hương có 4 người con, 3 người đã lớn và đi làm ăn xa, chỉ còn đứa út đang học. Ngoài đàn bò cùng lợn, gà, và hơn 15 ha rừng, ông bà còn biết mua thêm máy xát lúa để dùng cho gia đình và phục vụ cho người dân xung quanh. Đó cũng chính là lý do mà ông bà quyết tâm viết đơn xin ra khỏi hộ nghèo, vì “nghèo mãi rồi cũng xấu hổ”.

(0) Bình luận
Tin mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO