Tản mạn Giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải

Pháp luật | DƯƠNG TRẦN | 15:50 14/05/2020

LDNA+ Phải nói rằng chưa bao giờ một phiên Giám đốc thẩm lại thu hút được sự chú ý của công luận như phiên Giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải bị kết tội “giết người” và “cướp tài sản" vừa qua. Vừa là vì vụ Hồ Duy Hải 12 năm qua đã trải qua nhiều biến cố pháp luật, vừa là vì lần đầu tiên một phiên Giám đốc thẩm lại được tường thuật rộng rãi như thế.

 
Hiểu một cách nôm na, Giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt được áp dụng khi bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị phát hiện có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án và cần được xem xét lại.
Đối với vụ án Hồ Duy Hải, trải qua mười mấy năm, đã có những lúc tưởng chừng như án tử sắp được thi hành. Nhưng lệnh thi hành án, dù đã có căn cứ là Quyết định của Chủ tịch nước về bác đơn xin ân giảm án của Hồ Duy Hải, đã phải ngưng lại vì cũng chính Chủ tịch nước vào phút chót đã yêu cầu dừng lại để các cơ quan tố tụng xem xét một cách khách quan.
Hãy khoan bàn đến “bản chất vụ án” vì Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao đã quyết định: dù có một số sai sót trong tố tụng nhưng bản chất vụ án không thay đổi. Bởi nếu đứng trên tinh thần thượng tôn pháp luật, thì phán quyết ở phiên Giám đốc thẩm này đã có hiệu lực pháp luật và mọi người phải tuân thủ. Điều rất may là BLTTHS 2015 lại dành hẳn một chương để quy định về “xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao”. Nhưng việc các quy định đó có được cơ quan thẩm quyền thực hiện hay không thì vẫn cần thời gian, dù đại biểu Quốc hội Lê Thanh Vân đã có đề nghị Quốc hội giám sát tối cao về vụ án này.
Thật ra, ngay khi tin loan đi về phiên Giám đốc thẩm, nhiều người đã nghĩ tới một cái kết có hậu, ít nhất là Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao sẽ áp dụng Khoản 3, Điều 388 BLTTHS 2015 để hủy cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm, đồng thời trả hồ sơ để điều tra lại từ đầu. Nhưng sự tình đã không diễn ra như vậy.
Có một điểm chung giữa kháng nghị của VKSND Tối cao và phán quyết Giám đốc thẩm là: không khẳng định sự vô tội của Hồ Duy Hải. Nhưng lại có một điều khác nhau về nền tảng là: trong khi VKSND Tối cao, như kháng nghị, thì có vẻ hướng đến việc nâng cao chất lượng tố tụng, còn Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao lại hướng đến việc bảo vệ những gì mà pháp luật đã có hiệu lực, dù còn một số sai sót. “Dù có sai sót nhưng không làm thay đổi bản chất vụ án”, mệnh đề này có lẽ chính là nguyên nhân khiến công luận băn khoăn về một phán quyết Giám đốc thẩm, vốn phải rất chuẩn chỉnh về mặt tố tụng. Cũng mệnh đề này có thể làm phá vỡ đi một kỳ vọng về những định hướng cải cách tư pháp đã được vạch ra từ năm 2005.
Theo đó, Nghị quyết 49/2005 của Trung ương về cải cách tư pháp nói rằng: “Từng bước hoàn thiện thủ tục Giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ”. Sở dĩ Trung ương phải ra Nghị quyết và đề cập tới Giám đốc thẩm một cách cụ thể như vậy là vì trước năm 2005, kháng nghị Giám đốc thẩm xảy ra tràn lan. Có vị có thẩm quyền đã từng nhận định rằng: dường như người ta kháng nghị giám đốc thẩm như… cầu may.
Đương nhiên, một thực trạng mà ở bất kể một nền tư pháp nào, dù là độc lập hay được phân công nhiệm vụ, cũng khó tránh khỏi oan sai. Nhưng cũng không phải vì vậy mà khẳng định rằng 100% các bản án có hiệu lực pháp luật đều có thể gây ra oan trái. Hơn nữa, tham nhũng của một quốc gia không bao giờ khu biệt chỉ trong một lĩnh vực nào đó. Và tư pháp cũng không bị loại trừ.
Về mặt pháp luật, BLTTHS 2003 dù đã quy định về thẩm quyền và thủ tục Giám đốc thẩm, nhưng phải thừa nhận những quy định tại Điều 273 của bộ luật ấy vẫn rất chung chung như: “có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử”. Sự lợi dụng điều khoản này là không thể tránh khỏi và nó được ghi nhận trong Nghị quyết 49/2005 của Trung ương về cải cách tư pháp.
Và vì vậy, đến BLTTHS 2015, các căn cứ kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm đã được “siết” chặt hơn. Theo quy định tại Điều 371 của bộ luật này, thì ngoài “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử”, thì một bản án có hiệu lực pháp luật chỉ được kháng nghị khi thêm yếu tố “dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án”.
Đó cũng chính là mặt thứ hai của vấn đề khiến cho phán quyết của phiên Giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải lần này gây ra nhiều băn khoăn, trăn trở. Thật ra, những băn khoăn, trăn trở ấy là chính đáng nếu nhìn nhận rằng: BLTTHS 2015 là một trong những thiết chế chặt chẽ, tiệm cận những chuẩn mực tố tụng tiên tiến, nhân văn nhất. Và có thể nó phải là xu hướng của tố tụng, nhất là tố tụng hình sự từ nay trở về sau.

(0) Bình luận
Tin mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO