Thời hiệu khởi kiện tranh chấp lao động

Pháp luật | 06:00 04/04/2017

Ông H.V.M (quận 12 - TPHCM) đến Văn phòng TVPL Báo Lao Động trình bày: Ông nguyên là nhân viên xí nghiệp XXX. Tháng 12.2016, ông bị xí nghiệp cho nghỉ dôi dư (theo Nghị định 63/2015) khi đã có hơn 18 năm công tác. Ông không viết đơn đề nghị chấm dứt HĐLĐ mà chỉ ký vào lá đơn do xí nghiệp soạn sẵn. Do hoàn cảnh hiện rất khó khăn, nay ông muốn khởi kiện xí nghiệp vì đã ép ông nghỉ việc có được không?

- Luật sư Võ Văn Mỹ, Văn phòng luật sư Trung Dũng, Đoàn luật sư TPHCM trả lời: Về thời hiệu khởi kiện, khoản 2, Điều 202, Bộ luật Lao động 2012 quy định: Thời hiệu yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 1 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm. Do quyết định của xí nghiệp ban hành vào tháng 12.2016, nên thời hiệu khởi kiện của ông đối với quyết định chấm dứt HĐLĐ của xí nghiệp XXX là còn.

Ông có thể khởi kiện tại TAND nơi xí nghiệp đóng trụ sở hoặc TAND nơi ông cư trú. Tuy nhiên, do ông đã ký vào đơn đề nghị chấm dứt HĐLĐ do xí nghiệp soạn sẵn, điều này thể hiện ý chí đồng ý của ông với việc chấm dứt HĐLĐ, nên ông sẽ gặp bất lợi khi chứng minh mình bị ép phải ký vào đơn đề nghị chấm dứt HĐLĐ.

 Bạn N.M.C (Hà Nội), số điện thoại 0919861xxx gọi đến đường dây nóng của Văn phòng TVPL Báo Lao Động hỏi: Tôi có HĐLĐ không xác định thời hạn, viết email xin nghỉ việc báo trước 30 ngày và được giám đốc Cty đồng ý qua Skype. Giữa hai bên có ký một thỏa thuận bảo mật thông tin, theo đó tôi không được tiết lộ thông tin bí mật kinh doanh của Cty. Sau đó tôi nghỉ việc và về nhà mở Cty riêng có chung ngành nghề với Cty trước đây đã làm. Cty lấy lý do đó và cho rằng tôi nghỉ việc không báo trước để hơn 1 tháng nay chưa trả lương cho tôi. Tôi phải làm sao?

- Văn phòng TVPL Báo Lao Động trả lời: Khoản 3, Điều 37 Bộ luật Lao động 2012 quy định NLĐ làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của bộ luật này (lao động nữ có thai phải nghỉ việc theo quy định của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền - PV). Việc bạn chỉ báo trước 30 ngày là chưa phù hợp. Tuy nhiên, nếu được giám đốc Cty đồng ý thì hai bên đã thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ theo khoản 3, Điều 36 Bộ luật Lao động 2012.

Khoản 2, Điều 23 Bộ luật Lao động 2012 quy định: Khi NLĐ làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật, thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với NLĐ nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp NLĐ vi phạm.

Do đó, nếu hai bên chỉ có ký thỏa thuận bảo mật thông tin mà không có ký thỏa thuận NLĐ không được phép kinh doanh cùng ngành nghề của Cty thì việc kinh doanh của bạn không vi phạm thỏa thuận. Nếu Cty không trả lương cho bạn, bạn trước hết phải khiếu nại đến Cty để làm cơ sở hòa giải. Nếu Cty không hòa giải hoặc hòa giải không thành, bạn có thể khiếu nại đến Thanh tra Lao động nơi Cty đóng trụ sở hoặc khởi kiện Cty ra tòa. Trường hợp khởi kiện, bạn có thể khởi kiện tại tòa án cấp huyện nơi Cty đóng trụ sở hay nơi mình cư trú.

Theo laodong.com.vn

(0) Bình luận
Tin mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO