Chia lửa với chiến trường từ trong nhà tù

27/04/18 20:58
LDNA+
Non Nước đã diễn ra những cuộc chiến đấu hết sức quyết liệt và anh dũng của những người lính sa vào tay giặc. Những cuộc chiến đã chia lửa với các chiến trường để góp phần cùng dân tộc đi đến ngày toàn thắng.

Chôn sống tù nhân ở nhà tù Phú Quốc

Ra trận

Chỉ còn một chân, cùng với chiếc nạng, cựu chiến binh Lê Văn Long (SN 1950, trú xóm 3, Hưng Đạo, Hưng Nguyên) vẫn đi lại thoăn thoắt. Phần chân ấy ông đã để lại chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cứu nước quyết liệt nhất. “Ngày 26/7/1968, tôi nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện thì bổ sung vào Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 3, Sư đoàn 2, Quân khu 5. Lúc đầu tôi làm công vụ cho cán bộ, sau chuyển qua trinh sát liên lạc, phòng tăng rồi lại quay về thông tin. Tôi bị thương do lọt vào ổ mìn phục kích của địch khi tấn công đồn và kho lương của địch ở ấp Bình Tú (huyện Thăng Bình, Quảng Nam) vào đêm Giao thừa năm 1970. Đội hình tấn công bị lộ, địch từ trong ấp bắn như vãi đạn. Anh em chỉ kịp kéo tôi ra ngoài đưa về căn cứ”, ông Long kể.

Ông Long và một phần cơ thể để lại ở chiến trường - Ảnh: Hoàng Lam

Điều kiện thiếu thốn, bàn chân trái mất gần hết, chỉ còn cái gót chân treo lủng lẳng. Anh em đành phải cắt cho ông mà không có thuốc mê. Ông choáng, ngất lịm. Sáng mùng 1 Tết, Lê Văn Long được đồng đội cáng lên bệnh viện của Tỉnh đội Quảng Nam. Đơn vị được lệnh quay ra Quảng Trị, ông bị kẹt lại đây với chiếc chân phải bị cưa đến gần đầu gối vì nhiễm trùng.

Một tuần sau, vết thương chưa kịp liền thì bệnh viện Tỉnh đội bị địch phát hiện do bị 1 tên chiêu hồi chỉ điểm. Gần 700 lính được trang bị vũ khí tối tân đã cắt rừng, đánh úp vào bệnh viện, nơi chỉ có những thương binh nặng, dân thường và y bác sỹ. Lê Văn Long bị địch bắt và đưa về Bệnh viện Duy Tân (Đà Nẵng) để cứu chữa và khai thác thông tin. Trên giường bệnh, Lê Văn Long khai là Nguyễn Văn Nguyên, vừa vào lính được một thời gian ngắn, không nắm rõ các thông tin về đơn vị. Tuy nhiên, ông đã phạm một sơ hở chết người khi vô tình để lộ phiên hiệu của Sư đoàn, địch dùng đủ mọi loại hình tra trấn để moi móc thông tin từ người lính trẻ này nhưng không được. Tháng 4/1970, không khai thác được thêm gì, chúng chuyển Lê Văn Long ra trại giam Non Nước (Đà Nẵng). Từ đây, người lính trẻ này đã bước vào một cuộc chiến đấu mới, cuộc chiến không tiếng súng nhưng quyết liệt và đầy rẫy những hiểm nguy.

Chiến đấu ngay trong tay địch

Trước khi vào lính, Lê Văn Long đã hoàn thành chương trình phổ thông. Ở trại giam Non Nước, ông được tổ chức phân công phụ trách dạy các môn xã hội cho các đồng chí của mình. Ở đây, tù nhân được chia làm hai khu. Một khu dành cho những kẻ chiêu hồi, đang được cải tạo để tung vào các đội hình tấn công hay các chính quyền tay sai. Ở khu này, các tù nhân được đối xử tốt hơn. Còn khu kia là nơi giam giữ những “tên tù cộng sản”, “lính Bắc Việt cứng đầu”. Điều kiện sinh hoạt, chế độ ăn ở đây cực kỳ kham khổ. Với những người lính vào sinh ra tử, thử thách này không quá khó khăn để vượt qua. Đảng bộ nhà lao Non Nước vẫn vững vàng trước những đòn hiểm hóc của quân thù, trong đó có thủ đoạn cài cắm, trà trộn những tên chiêu hồi vào đây để moi móc thông tin, đồng thời phá hoại khối đoàn kết của anh em trong tù.

“Ở trong tù, Đảng bộ nhà lao cũng thành lập các tòa án để xét xử những kẻ phản bội, chiêu hồi. Có thể xử một cách hợp pháp bằng cách dàn dựng thành các vụ tự tử nhưng cũng có những vụ bất hợp pháp là sau khi xử tử, một người đứng ra nhận trách nhiệm. Những người nhận nhiệm vụ này cũng cầm chắc cái chết trước sự trả thù tàn độc của những tên quân cảnh, của bộ máy cai ngục”, ông Long nhớ lại.

Sau 2 năm bị giam giữ tại Non Nước, tháng 3/1972, Lê Văn Long (lúc này mang tên Nguyễn Văn Nguyên) bị chuyển ra nhà tù Phú Quốc. Tại đây, các điều kiện sống, lương thực, đặc biệt là nước uống cực kỳ khó khăn, thiếu thốn. Những cuộc đấu tranh đòi quyền dân sinh diễn ra quyết liệt thông qua hình thức tuyệt thực hoặc mổ bụng. Ở đây, ông Long tiếp tục được Đảng bộ nhà lao phân công dạy văn hóa cho anh em.

“Sáng đó, tôi đang dạy cho anh em tù nhân người Quảng Ngãi tập đọc. Tôi viết dưới nền nhà bài thơ Chúc Tết năm 1968 của Bác Hồ thì hai tên cai ngục xông vào. Chúng bảo tôi tuyên truyền chính trị, hôm trước ném tài liệu sang khu bên cạnh nên tên cai ngục túm cổ áo tôi, lẳng lên sạp. Tôi tức quá, cố sức tung một cú đấm vào mặt hắn nhưng hắn né được. Người bạn tù Nguyễn Ngọc Ký (lúc đó lấy tên là Quý, quê Hà Tĩnh, bị tụt cánh tay trái), vớ được chiếc gậy của tôi, nhằm vào cổ tên quân cảnh phang mạnh. Máu từ cổ tên quân cảnh tuôn xối xả, tên đi cùng lập tức kéo đồng bọn ra khỏi buồng giam. Sau việc này, trưởng liên khu tù giam lên loa thông báo tù nhân tấn công quân cảnh, yêu cầu giao nộp 2 tù nhân này cho ban chỉ huy liên khu. Không muốn liên lụy đến anh em, tôi và anh Ký xin ra nhận nhưng Đảng ủy trại giam không đồng ý”, ông Long kể tiếp.

Không bắt được 2 người đánh quân cảnh, địch cắt toàn bộ khẩu phần ăn của tù nhân. Một cuộc tuyệt thực đấu tranh được phát động. Sau 5 ngày tuyệt thực, Đảng bộ nhà lao phát động một cuộc đấu tranh mới: mổ bụng. 11 đảng viên ưu tú nhất được lựa chọn. Bọn cai ngục tìm cách thương lượng để tù nhân không mổ bụng, tránh sự chú ý của các tổ chức nhân quyền quốc tế đang giám sát hoạt động của các trại giam. Đại diện tù nhân yêu cầu chấm dứt các hành động tra tấn tù nhân, vô cớ đánh đập tù nhân… nhưng không được chấp nhận. 7 trong số 11 người tù đã tự dùng dao rạch bụng mình đấu tranh. Trước khí thế đấu tranh của những người lính này, địch đành phải nhượng bộ, đồng ý không truy cứu vụ 2 lính quân cảnh bị đánh kia nữa, đồng thời cung cấp lương thực và các nhu yếu phẩm cần thiết cho các tù nhân và tổ chức đưa những người bị thương đến bệnh viện chữa trị.

Nước mắt ngày trở về

Cuộc đấu tranh trong nhà lao kéo dài cho đến khi Hiệp định Paris được ký kết. Theo nội dung đã được thống nhất trong Hiệp định Paris, những tù nhân sẽ được trao trả cho hai bên. Tuy vậy, cuộc đấu tranh của những người lính sa vào tay giặc vẫn chưa kết thúc. Trước thời điểm được trao trả, những tù nhân được địch tổ chức cho đi tham quan, thay quần áo mới, được ăn uống thịnh soạn. Nhận định đây chỉ là thủ đoạn nhằm che mắt các tổ chức quốc tế giám sát việc thực hiện Hiệp định Paris của địch nên các tù nhân nhất quyết không thực hiện.

Một ngày tháng 3/1973, họ được chở bằng máy bay từ trại giam Biên Hòa ra Huế, tiếp tục một chặng đường ô tô đến bờ Nam sông Thạch Hãn (Quảng Trị). Từ đây, họ có thể nhìn thấy ở bờ bên kia những đồng đội, đồng chí, đồng bào của mình và những lá cờ đỏ sao vàng tung bay đang đón chờ. Thuyền đi ra giữa dòng, cách điểm phân giới vài mét, những người tù rút lá cờ giấu trong người ra vẫy lên trời. Nhiều người không thể chờ đợi hơn được nữa, từ trên thuyền, họ nhào xuống sông, bơi về phía bờ Bắc. Từ trên bờ, những người đồng chí của họ cũng nhào xuống sông, ra đón. Riêng ông Long và một số người bị thương nặng không thể nhảy xuống sông bơi, đành phải chờ thuyền cập bờ và được cõng lên.

Những nụ cười, những cái ôm, những cái siết tay thật chặt nhưng sao nước mắt ai cũng giàn dụa. Họ biết rằng, cuộc sum họp Bắc - Nam như Bác Hồ mong mỏi sẽ không còn xa nữa. Và đúng 2 năm sau, non sông Việt Nam đã liền một dải sau cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ông Long vui vì đất nước ngày một phát triển. Tuy mất đi một chân nhưng ông vẫn còn may mắn hơn bao đồng đội khác đã mãi mãi không trở về. Người lính già rưng rưng: “Trong các nhà tù, do yêu cầu của thực tế, nhiều người không được giữ đúng cái tên của mình. Những cuộc chiến đấu khốc liệt đã diễn ra, nhiều người trong số họ đã ngã xuống như những người lính vô danh… Đau lắm!”.

HOÀNG LAM
Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

tối thiểu 10 chữ tiếng Việt có dấu không chứa liên kết

Tin cùng chuyên mục
Tin Mới Nhất
lên đầu trang