Đồng Đăng, hai chiều thời gian...

14/02/19 08:23
LDNA+
Trong kho tàng ca dao Việt Nam, Đồng Đăng là một trong những địa danh được ưu ái bởi người ta lên đó ai cũng “mãi vui quên hết lời em dặn dò” (Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa/ Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh...). Nhưng từ 40 năm nay, cứ mỗi tháng 2 về Đồng Đăng, thị trấn biên ải của tỉnh Lạng Sơn lại được nhắc nhớ với những cảm xúc trái ngược. Không còn “mải vui quên hết lời em dặn dò” mà sẽ là mãi nhớ nỗi đau…
 
Cứ mỗi lần lên Lạng Sơn, lên Đồng Đăng chúng tôi lại lặng người trước pháo đài Đồng Đăng. Dưới những tầng hầm của pháo đài ấy, bao nhiêu người đã nằm lại trong những ngày mùa xuân của 40 năm trước. Mỗi mùa hội tháng Giêng, quãng đường trước đền Mẫu của thị trấn biên giới Đồng Đăng chật kín như nêm các loại xe mang biển số từ các tỉnh tận Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Nội... lên đây lễ mẫu, cầu tài cầu lộc đầu năm.

Từ trên đỉnh pháo đài nhìn xuống thị trấn Đồng Đăng - Ảnh: Lê Việt Thường

 

Hồi ức của người anh hùng
Điện thờ Mẫu nghi ngút khói nhang, dập dìu trai thanh gái lịch dâng lễ. Chắc không mấy ai trong số cả ngàn người hành lễ kia biết rằng, bên trong đền Mẫu này có một hang đá, những ngày tháng 2/1979, từ hang đá ở đền Mẫu này đã xuất hiện một người anh hùng ở tuổi 20. Ông là anh hùng Triệu Văn Điện, sau này là Đại tá Công an tỉnh Lạng Sơn.

Không mấy ai trong số những người về đền Mẫu biết về hang đá cất giữ những huyền thoại về người anh hùng 20 tuổi Triệu Văn Điện

 

Chúng tôi dừng xe ở ngôi nhà cạnh đền, ông Điện vừa mở cửa xe đã vội bước vào kêu lớn: “Anh Bình ơi, anh Bình” - một người đàn ông trạc tuổi 60, đội chiếc mũ mềm che kín tai của lính biên phòng bước ra ôm chầm lấy ông Điện. Quay sang chúng tôi, ông Điện bảo: “Anh Bình là anh nuôi của tôi, cũng là ân nhân của tôi và mấy trăm người dân Đồng Đăng trong chiến tranh biên giới”.

Đại tá, Anh hùng LLVTND Triệu Văn Điện và ông Nguyễn Văn Bình, hai cựu binh của cuộc chiến tranh biên giới năm 1979

 

“Năm đó tôi vừa tròn 20 tuổi” - Đại tá Triệu Văn Điện hồi ức về tháng 2/1979 như thế. Nhập ngũ năm 1978, sau khóa huấn luyện, binh nhất Triệu Văn Điện, người chiến sĩ dân tộc Nùng quê ở huyện Bình Gia được điều về Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động của Công an Lạng Sơn. “Các anh hỏi ký ức về buổi sáng 17/2 năm đó như thế nào à? Khó quên lắm. Biên giới dạo ấy đã “động” lắm. Đêm nào anh em trong đơn vị cũng đi tuần tra. Lạnh rét và cả đói. Khuya 16/2, tôi với hai đứa trong tổ của mình là Vi Văn Cao, người dân tộc Tày ở huyện Lộc Bình và Trần Văn Thái, đồng hương cùng quê của tôi ở Bình Gia. Ba đứa đi tuần tra về đã là 3 giờ sáng 17/2. Lạnh và đói. Vừa nhóm bếp sưởi cho bớt lạnh, tiện còn mớ gạo nếp, tôi nấu xôi cho cả ba anh em cùng ăn. Xôi chín, vừa ăn, tôi vừa bảo Vi Văn Cao: “Mày ăn no rồi mai nhớ thổi sáo cho tao nghe”. Vi Văn Cao cũng trạc tuổi tôi, thổi sáo hay kinh khủng. Ăn xong, ba chúng tôi lên chiếc sạp kê bằng mấy mảnh ván, vừa nằm xuống lưng chưa dính chiếu thì đã nghe tiếng pháo dập ầm ầm rền vang bầu trời yên tĩnh trước lúc bình minh. Thoạt tiên cũng chỉ nghĩ là như mọi hôm, bên kia vẫn thỉnh thoảng bắn một trận pháo như thế. Nhưng lần này có vẻ khác. Pháo cấp tập hơn, nhiều hơn. Cả bầu trời rực sáng ánh lửa. Chỉ kịp lăn xuống khỏi giường, ba chúng tôi theo lệnh chỉ huy tổ chức đội hình chiến đấu ngay. Pháo vẫn từ phía biên giới nã cấp tập từ khu vực Đồng Đăng xuống tới thị xã Lạng Sơn. Lúc này, hàng trăm người dân Đồng Đăng đã hoảng loạn tìm nơi trú ẩn. Cả khu vực thị trấn may sao có một hang đá nằm trên lưng chừng núi đá sau lưng đền Mẫu. Dân chui hết vào hang. Phần còn lại chạy lên phía pháo đài Đồng Đăng, nơi có một đại đội công an vũ trang đang chốt giữ. Đơn vị của Triệu Văn Điện cơ động lên phía đền Mẫu để chiến đấu và bảo vệ dân. Chỉ hơn một giờ sau, tổ “tam tam” của Triệu Văn Điện chỉ còn lại mình anh, hai đồng đội Vi Văn Cao và Trần Văn Thái hy sinh ngay trước mặt vì một quả đạn pháo của địch. Ngồi với chúng tôi, hồi ức về buổi sáng tháng 2/1979 ấy, ông Điện lại ngậm ngùi: Thương nhất thằng Cao, nó hiền lắm, giờ vẫn còn nhớ như in tiếng sáo của người con trai dân tộc Tày mỗi chiều thổi cho đồng đội trên chốt nghe.
Người đàn ông tên Bình, Nguyễn Văn Bình - người mà Đại tá Triệu Văn Điện giới thiệu là anh kết nghĩa của mình giờ mới lên tiếng góp vào: “Không có hang đá trên đền Mẫu thì không biết bây giờ anh em mình có còn sống để ngồi với nhau đây”. Trong buổi sáng 17/2/1979 ấy, ông Bình vừa từ Cao Bằng về nhà vào đêm hôm trước, khi ấy ông Bình là lính trinh sát của Đại đội 22, thị đội Cao Bằng. Tết đó không về nhà nên sau Tết đơn vị cho về phép bù. Ngôi nhà ông Bình mà sáng nay chúng tôi đang ngồi cũng chính là vị trí căn nhà cũ hồi 1979.
Sáng 17/2 năm đó, khi địch tràn sang, ông Bình không kịp trở lại đơn vị ở Cao Bằng nên tìm sang đơn vị của ông Điện đang đóng ngay trước nhà ông để xin gia nhập chiến đấu. Là lính, chiến tranh ập đến đâu kể gì phiên hiệu, miễn cầm được súng bảo vệ dân là được. Ông Bình khi ấy 25 tuổi, đã có mấy năm tuổi quân, vừa là lính trinh sát, vừa là dân bản địa nên có kinh nghiệm chiến đấu để bày vẽ cho những chàng lính trẻ như Triệu Văn Điện. Từ nhà ông Bình, rẽ trái mươi bước chân là đến cổng đền Mẫu. Hai cựu binh của cuộc chiến 1979 đưa chúng tôi thăm lại “chiến trường xưa” - như cách ông Điện nói - không phải là chốn rừng sâu núi thẳm gì. “Các anh là những nhà báo đầu tiên được cả hai anh em tôi đưa lên lên trận địa cũ đấy” - ông Điện nói. Lối lên hang đá nằm ngay trong lòng điện thờ đền Mẫu, những bậc tam cấp dẫn ngoằn ngoèo qua rất nhiều ngóc ngách, cửa hang hiện ra hẹp vừa một người chui vào nhưng qua khúc cửa hẹp, lòng hang rộng dần ra. Thiên nhiên khéo chở che con người qua những “công sự” tự nhiên như thế này. Vừa đi, ông Bình và ông Điện thay nhau chỉ vào các hốc đá, gốc cây trên sườn núi, nơi những đồng đội mình đã hy sinh. Có lên đứng ở vị trí hang đá, qua hồi ức của Triệu Văn Điện, chúng tôi mới hình dung được những gì xảy ra. Đưa tay chỉ xuống khu nhà trụ sở của UBND thị trấn Đồng Đăng, ông Bình nói: Chỗ đó xưa là sân vận động thị trấn. Địch kéo quân qua, bố trí ở đó mấy khẩu đội pháo 122mm, cứ thế nã thẳng về phía núi Chóp Chài của thị xã Lạng Sơn. Anh em trong đơn vị cứ nấp sau các khe đá nhắm thẳng vào tụi lính pháo mà tỉa xuống. Súng đạn mù trời, địch không sao phát hiện được súng từ đâu bắn tới. Nhìn xuống thị trấn thấy xe tăng của địch đang chạy ầm ầm bao vây nã pháo vào pháo đài Đồng Đăng ở phía dưới. Khi ấy trong hang đá còn có hơn 300 bà con là dân thị trấn đang trú ẩn. Vội vàng chạy giặc, không ai kịp mang theo thực phẩm. Nhờ là dân bản địa, thông thuộc địa hình địa vật, đêm đến, ông Bình dẫn đường cho anh em trong đơn vị của ông Điện xuống các nhà dân gom góp nhặt nhạnh đồ ăn mang lên hang tiếp viện bất chấp nguy hiểm chực chờ bởi lán trại của quân Trung Quốc đang dựng lên ngay cạnh đó. Cầm cự được vài hôm thì anh em được lệnh dò đường đưa bà con thoát ra khỏi hang đá, đồng thời đưa anh em thương binh trong đơn vị về tuyến sau. Tuy địch chiếm được Đồng Đăng nhưng rừng núi mênh mông, khó có thể chặn hết các ngã. Ba hôm sau, đơn vị của Triệu Văn Điện lần theo lối xuống con suối phía sau triền hang, đưa từng nhóm dân vượt qua vòng vây của địch về tuyến sau rồi trở lại bám trụ hang đá đền Mẫu chiến đấu. Cuối năm đó, hạ sĩ Triệu Văn Điện được làm hồ sơ và được tuyên dương anh hùng.
Sau khi đi học ở trường sĩ quan công an, trở lại Lạng Sơn, Triệu Văn Điện là nỗi ám ảnh kinh hoàng của những băng cướp khét tiếng vùng biên viễn, nhất là giai đoạn ông làm Phó phòng Cảnh sát Hình sự Công an Lạng Sơn. Sau đó là Đại tá, Trưởng phòng Cảnh sát truy nã tội phạm, trong huyết quản của người đàn ông vạm vỡ người dân tộc Nùng này, tiêu diệt cái ác như một sứ mệnh, như từ 40 năm trước, khi còn là chàng binh nhất ôm khẩu trung liên diệt hàng chục tên xâm lược từ trên hang đá đền Mẫu.
 
Khúc bi tráng ở pháo đài Đồng Đăng
Cùng lúc này, cách hang đá đền Mẫu chừng một cây số là pháo đài Đồng Đăng. Cuộc chiến ở địa điểm này còn khốc liệt hơn. Từ pháo đài lên cửa khẩu Hữu Nghị Quan cũng chỉ chừng hai cây số. Đại đội 5 công an vũ trang (C5) - nay gọi là bộ đội biên phòng - với hơn 100 tay súng ngoan cường chọi lại một lực lượng địch lên đến cả trung đoàn có xe tăng và pháo yểm trợ. Một nhân chứng của pháo đài Đồng Đăng dạo đó là binh nhì Nông Văn Phiao, chiến sĩ của C5, sau này ông là Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng Lạng Sơn, người cũng được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang vào cuối năm 1979. Án ngự ở một vị trí trọng yếu nhất của thị trấn Đồng Đăng, pháo đài được xây từ thời Pháp (năm 1945) nay trở thành một cứ điểm vô cùng kiên cố nhờ hệ thống hầm ngầm bên trong pháo đài chia làm nhiều tầng, có sức chứa hàng trăm người. Tất cả chìm khuất dưới lòng đất, chỉ nhô lên trên đỉnh đồi những lô cốt kiên cố với lỗ châu mai vừa phòng thủ, vừa là chỗ thông gió cho hệ thống hầm ngầm bên dưới. Không may mắn như những người dân trong hang đền Mẫu được mở đường thoát về tuyến sau.
Ngay sáng 17/2/1979, gần một trăm người dân Đồng Đăng lên đây trú ẩn, trong những ngày chiến sự, họ vẫn cùng các chiến sĩ C5 chiến đấu, tải thương, lo cơm nước cho anh em. Những ngày đầu, nhờ vị thế của pháo đài, anh em đã đánh bật hàng chục đợt xung phong của địch hòng chiếm lấy cao điểm này. Hàng trăm tên địch gục ngã sau những đợt xông lên. Nhưng địch bao vây pháo đài lâu quá, sau hơn một tuần chiến đấu, khi anh em lùi vào cố thủ trong pháo đài cùng với những người dân đang trú ẩn thì địch tiếp cận với đường hầm và pháo đài đặt cả tạ thuốc nổ giật sập cửa vào hầm ngầm, dùng lựu đạn cay thả xuống hầm qua các lỗ thông hơi, chỉ có sáu người sống sót thoát ra được sau đó, còn hàng chục người dân và nhiều chiến sĩ của C5 đã chết ngay trong lòng pháo đài.

Hai khối bê tông khổng lồ bị xô ngã chồng chéo vào nhau, đó là dấu tích của lô cốt dẫn lối vào pháo đài bị địch đặt thuốc nổ giật sập

 

Khi chúng tôi lên đỉnh pháo đài Đồng Đăng. Đập vào mắt là hai khối bê tông khổng lồ bị xô ngã chồng chéo vào nhau, đó là dấu tích của lô cốt dẫn lối vào pháo đài bị địch đặt thuốc nổ giật sập. Pháo đài Đồng Đăng là công trình nổi tiếng được xây từ thời Pháp, mang trong lòng nó thân xác của hàng trăm người hy sinh trong chiến tranh năm 1979, được công nhận là “di tích lịch sử” nhưng sao hoang tàn quá.
Chúng tôi đặt bó hoa cúc vàng trên khoảng bê tông trước lối xuống cửa hầm ngầm, đốt nhang tưởng niệm những người lính, những người dân đã hy sinh năm nào dưới lòng công sự.

Chúng tôi đốt nhang tưởng niệm những người lính, những người dân đã hy sinh tháng 2 năm 1979 dưới lòng pháo đài Đồng Đăng

 

Từ trên đỉnh pháo đài, chúng tôi nhìn xuống, thu hết vào tầm mắt cả thị trấn Đồng Đăng, từ nhà ga quốc tế, nơi đón những chuyến tàu liên vận đến những dãy phố cao tầng mọc lên, những cửa hàng sáng choang ánh điện. Cửa khẩu Tân Thanh nhộn nhịp xe đến xe đi. Cũng dễ hơn mấy chục năm rồi, Đồng Đăng được nhắc đến như một thị trấn biên mậu sôi động trên biên giới Việt Trung của tỉnh Lạng Sơn. “Quá khứ rất cần được khép lại để tương lai đâm chồi, nhưng cũng rất cần trân trọng những năm tháng thuộc về quá khứ”. Đồng Đăng là một nhắc nhớ đầy sinh động về điều đó!
 
… “Trong pháo đài lúc này ngoài chúng tôi còn có độ 50 đồng bào. Hầu hết là đàn bà trẻ em từ dưới thị trấn Đồng Đăng chạy lên tránh đạn pháo từ sớm ngày 17/2. Vì đông người nên thức ăn thức uống dự trữ của chúng tôi đã sắp hết. Chỉ còn dăm cân mì sống và mấy lít nước cạn dưới đáy phi. Trong pháo đài tối om và ngột ngạt vì hơi người, ầm ĩ tiếng trẻ con khóc lặng đi vì khát nước, khát sữa. Mệt quá, khát quá tôi ngồi dựa lưng vào góc tường, đầu choáng, người ớn lạnh và buồn nôn vô cùng. Bỗng "Ầm...! ... Ầm!" hai tiếng nổ khủng khiếp nối nhau. Pháo đài rung chuyển. Tiếp đó hàng chục, hàng trăm tiếng nổ chói tai rung óc. Hơi khói cay sè, đen đặc cuồn cuộn ùa vào từng căn phòng trong pháo đài. Tiếng kêu nhốn nháo:
- Địch giật bộc phá lấp đường hầm rồi!
- Địch thả lựu đạn cay các đồng chí ơi! Ai có khăn ướt thì đậy ngay lên mặt đi.
Một giọt nước uống còn không có, đào đâu ra khăn ướt. Tiếng trẻ con sặc sụa rồi lặng đi. Mấy đồng chí thương binh kêu rú lên, nấc nấc hai ba cái rồi lịm. Tôi bò sờ soạng lần về lỗ thông hơi để thở nhưng từ ngoài địch nhét lựu đạn cay vào nổ choang choác. Qua ánh lửa tôi thấy đàn bà trẻ em nằm la liệt, co quắp, giãy giụa. Một thứ khói gì rất lạ ộc vào họng cháy bỏng và lửa cháy bừng bừng. Địch phun hơi độc hoá học và phun xăng xuống đốt, tôi thoáng nghĩ rồi ngất lịm. Tỉnh dậy tôi thấy tức thở quá. Tiếng nổ vẫn ầm ầm. Máu ứa ra từ miệng, từ mũi, từ tai. Tôi bò đi sờ trong đống xác người nằm co quắp ấy xem có ai còn sống không. Tất cả dường như đã chết…”.
(Hồi ức của Anh hùng Nông Văn Phiao - chiến sĩ Đại đội 5 Công an vũ trang chốt giữ pháo đài Đồng Đăng vào tháng 2/1979)
LÊ VIỆT THƯỜNG
Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

tối thiểu 10 chữ tiếng Việt có dấu không chứa liên kết

Tin cùng chuyên mục
Tin Mới Nhất
lên đầu trang