Đấu tranh với lập luận ngụy biện và hoạt động phi pháp của Trung Quốc ở Bãi Tư Chính:Dưới ánh sáng của Luật Biển Quốc tế

10/10/19 10:37
LDNA+
Đã 3 tháng trôi qua, tàu khảo sát Địa chất Hải Dương 08, được sự hỗ trợ, bảo vệ của một cơ số tàu vũ trang, bán vũ trang hùng hậu của Trung Quốc, ngày đêm liên tục quần đảo, lúc vào, lúc ra, đến nay đã 6 lần, khu vực biển xung quanh bãi Tư Chính thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam.

Tàu Hải Dương địa chất 8 của Trung Quốc. Ảnh nhỏ: Hình ảnh được Phó Giáo sư Ryan Martinson đăng tải trên Twitter cho thấy hải trình của tàu Hải Dương Địa chất 8 từ ngày 3-19/7, vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam - Ảnh chụp màn hình HK01 (theo Báo Tuổi trẻ)

 

Để làm rõ sự thật đúng sai về những hoạt động của nhóm tàu Địa chất Hải Dương 08 và lập luận của Trung Quốc để nguy biện cho những hoạt động phi pháp nói trên, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một số quy định có liên quan của Công ước của LHQ về Luật Biển 1982:
 
1. Công ước Luật Biển của LHQ năm 1982:
Luật Biển quốc tế đang có hiệu lực hiện nay là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (tiếng Anh: The United Nations Convention on the Law of the Sea, viết tắt là UNCLOS 1982). Văn bản của Công ước này được thể hiện bằng các ngôn ngữ Ả Rập, Trung Quốc, Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha. Việt Nam là nước đầu tiên trong khu vực đã dịch văn bản Công ước từ tiếng Pháp, tiếng Anh ra tiếng Việt. Năm 1973, LHQ triệu tập Hội nghị Luật Biển lần thứ 3 để thảo luận và thông qua Công ước Luật Biển mới. Sau 5 năm trù bị (1967-1972) và qua 9 năm thương lượng (1973-1982), trải qua 11 khóa họp, ngày 30/4/1982, Hội nghị của LHQ về Luật Biển lần thứ 3 đã thông qua được một Công ước mới, gọi là Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982, với tỷ lệ 130 phiếu thuận, 4 phiếu chống, 17 phiếu trắng và 2 nước không tham gia bỏ phiếu. Sau đó, ngày 10/12/1982, tại Montego Bay (Jamaica), 118 đoàn đại biểu quốc gia đã chính thức ký Công ước. Công ước có hiệu lực từ ngày 16/11/1994. Việt Nam là một trong 130 nước bỏ phiếu thông qua và sau đó, năm 1982, cùng 117 nước khác ký kết Công ước tại Vịnh Montego (Jamaica). Ngày 23/6/1994, Việt Nam đã phê chuẩn và chính thức trở thành thành viên chính thức của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.
Công ước được xây dựng theo nguyên tắc “cả gói”, bao gồm tất cả mọi khía cạnh liên quan đến Luật Biển. Công ước bao gồm 17 phần với 320 điều khoản, 9 phụ lục, 4 nghị quyết kèm theo, chứa đựng 1.000 quy phạm pháp luật quốc tế. Đây là một văn kiện pháp lý quốc tế tổng hợp, toàn diện, bao hàm tất cả những nội dung quan trọng nhất trong luật pháp và thực tiễn quốc tế về biển và đại dương thế giới; trong đó, quan trọng nhất là thống nhất phương pháp xác định phạm vi không gian của các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của các nước ven biển, quy định rõ ràng các quyền và nghĩa vụ của mọi quốc gia, có biển và không có biển, phát triển hay đang phát triển, trên nhiều lĩnh vực như: an ninh, bảo vệ môi trường, thăm dò khai thác tài nguyên thiên nhiên, giao thông liên lạc, nghiên cứu khoa học và công nghệ... trên các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, cũng như các vùng biển nằm ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia.
Theo UNCLOS 1982, biển, đại dương được phân chia thành ba loại vùng biển với các quy chế pháp lý cơ bản khác nhau:
Loại thứ nhất: Các vùng biển là một phần lãnh thổ không tách rời của quốc gia ven biển mà ở đó quốc gia ven biển hoàn toàn có chủ quyền (như: vùng nội thủy được ghi nhận tại Điều 5 Công ước Geneva về Luật Biển năm 1958 và tại Khoản 1, Điều 8 Công ước về Luật Biển 1982; vùng lãnh hải được ghi nhận tại Điều 12 Công ước về Luật Biển 1982);
Loại thứ hai: Các vùng biển không phải là một phần lãnh thổ của quốc gia ven biển, nhưng lại thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển (như vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa);
Loại thứ ba: Vùng biển không thuộc chủ quyền, không thuộc quyền chủ quyền và không thuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào, kể cả quốc gia có biển và quốc gia sử dụng biển. Đó là biển cả (High Sea) và vùng (Zone).
Cùng với việc phân loại các vùng biển thì các vấn đề về eo biển, kênh, vùng nước quần đảo, kể cả Bắc Cực và Nam Cực, cũng đã chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong Công ước.
 
2. Hiệu lực để xác định phạm vi các vùng biển và thềm lục địa của các thực thể địa lý thuộc 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
Đây là một nội dung có liên quan đến quy chế pháp lý của các thực thể địa lý (đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm, rạn san hô) ở giữa Biển Đông. Mặc dù UNCLOS 1982 và các tiền lệ pháp, đặc biệt là Phán quyết Tòa Trọng tài 2016, đã quy định và phân tích, xác định rất rõ về hiệu lực của chúng, nhưng trong thực tế việc giai thích và áp dụng vẫn còn là vấn đề, hoặc là sai trái, hoặc còn để ngõ. Vì vậy, chúng ta cần phải lưu ý những nội dung sau đây để thấy rõ tính chất ngụy biện trong lập trường của Trung Quốc:
2.1. Trung Quốc đã tuyên bố hệ thống đường cơ sở thẳng tại quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam) năm 1996 (15/5/1996), vận dụng theo phương pháp thiết lập hệ thống đường cơ sở quốc gia quần đảo. Như vậy, Trung Quốc đã giải thích và áp dụng sai các quy định của Phần IV, UNCLOS 1982 trong việc xác lập hệ thống đường cơ sở đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Trung Quốc cũng đang tính đến việc xác lập hệ thống đường cơ sở ở quần đảo Trường Sa mà họ gọi là Nam Sa, sau khi họ đã chiếm đóng được tại các thực thể là các bãi cạn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và trên thềm lục địa của các quốc gia xung quanh Biển Đông. Từ cách xác lập hệ thống đường cơ sở sai trái đó, Trung Quốc khẳng định họ có quyền xác định các “vùng biển liên quan” 200 hải lý xung quanh các quần đảo ở giữa Biển Đông. Đây là sự giải thích và áp dụng sai trái UNCLOS 1982 . Bởi vì, theo quy định của UNCLOS 1982 thì:
Thứ nhất:
“Quốc gia quần đảo” (Etat Archipel) là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều quần đảo và có khi bởi một số hòn đảo khác nữa.
“Quần đảo” (Archipel) là một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử.
Điều 47 đã quy định: Một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối liền các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá lúc chìm lúc nổi của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước đó với đất, kể cả vành đai san hô, phải ở giữa tỷ lệ số 1/1 và 9/1...
Phần IV, không có điều khoản nào quy định phương pháp vạch đường cơ sở quần đảo không phải là quốc gia quần đảo. Vì vậy, quốc gia lục địa có chủ quyền phải vạch đường cơ sở cho từng thực thể địa lý của quần đảo để xác định phạm vi các vùng biển và thềm lục địa cho từng thực thể địa lý đó. Vì vậy, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa không có đường cơ sở được thiết lập theo tiêu chuẩn “quốc gia quần đảo”. Hệ thống đường cơ sở chỉ có thể được thiết lập cho từng thực thể địa lý, được coi là là đảo theo đúng định nghĩa của Điều 121, UNCLOS 1982. Vùng biển và thềm lục địa xung quanh các thực thể này phải tuân thủ đúng quy định của UNCLOS 1982. Theo đó, và theo Phán quyết của Tòa trọng tài 2016, thì tất cả các thực thể địa lý này chỉ có lãnh hải tối đa 12 hải lý bao quanh.
Thứ 2:
Theo quy định của Điều 121, UNCLOS 1982:
“Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước”.
“Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác”.
“Những hòn đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa”.
Năm 2016, Phán quyết của Hội đồng Trọng tài, được thành lập theo Phụ lục VII để xử vụ Philippines kiện Trung Quốc, đã khẳng định rằng: nếu căn cứ vào nguồn gốc của các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, thì tất các đảo ở đây rất nhỏ bé, không thích hợp cho đời sống của cộng đồng dân cư và không có đời sống kinh tế riêng nên chỉ có thể có vùng lãnh hải tối đa 12 hải lý.
Như vậy, tất cả các thực thể địa lý là những bãi cạn ở cách bờ biển của các quốc gia ven Biển Đông không quá 200 hải lý không phải là bộ phận cấu thành của quần đảo Trường Sa; bởi vì chúng là những bãi ngầm, bãi cạn ở xa và bị ngăn cách quần đảo này bởi các rãnh sâu, không thể tạo thành một thể thống nhất về địa lý, địa chất, không gắn kết về kinh tế, lịch sử để tạo thành một thể thống nhất của quần đảo. Theo đó, bãi Tư Chính không thể là một bộ phận của quần đảo Trường Sa. Nếu trên các bãi cạn này có xây dựng các công trình nhân tạo thì chỉ có vùng an toàn 500m bao quanh; không thể có “vùng biển liên quan” 200 hải lý theo quan điểm của Trung Quốc.
2.2. Đối chiếu với những quy định của UNCLOS 1982, Luật Biển Việt Nam năm 2012, cũng như các tiền lệ pháp, đặc biệt là Phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế The Haye năm 2016, khu vực bãi cạn Tư Chính, Vũng Mây, Quế Đường, Huyền Trân… ở cách đường cơ sở thẳng dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam công bố năm 1982 dưới 200 hải lý; nếu tính từ các điểm nhô xa nhất của các đảo thuộc quần đảo Côn Đảo, Phú Quý, là những đảo thích hợp cho đời sống của cộng đồng dân cư và đời sống kinh tế riêng, thì khu vực biển này vẫn ở dưới khoảng cách 200 hải lý.
Vì vậy, khu vực bãi cạn Tư Chính hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam, chưa tính đến khả năng ranh giới ngoài của thềm lục địa ở đây có thể được mở rộng ra đến giới hạn tối đa 350 hải lý cách đường cơ sở nếu được Tiểu ban ranh giới Thềm lục địa của Liên Hợp Quốc xem xét, công nhận.
Tại khu vực này, Việt Nam đã và đang tiến hành thăm dò khai thác dầu khí, đã xây dựng các cụm dịch vụ mang tên DK, phù hợp với các quy định về quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển theo Điều 60, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, quy định về các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế và Điều 80 quy định về các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình ở thềm lục địa. Việt Nam có đặc quyền tiến hành xây dựng, cho phép và quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình dùng vào mục đích được trù định ở Điều 56 của UNCLOS 1982 hoặc các mục đích kinh tế khác trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Việt Nam tuyên bố không cố ý biến các bãi ngầm ở thềm lục địa phía Nam thành đảo nổi và không ghép chúng vào quần đảo Trường Sa, đồng thời bác bỏ sự gán ghép này.
Vì vậy, “Việt Nam kiên quyết phản đối hành động này và đã có giao thiệp với Trung Quốc. Việt Nam một lần nữa yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay vi phạm và rút toàn bộ nhóm tàu trên ra khỏi vùng biển của Việt Nam, không để xảy ra vi phạm tương tự. Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam tại Biển Đông bằng các biện pháp mà luật pháp quốc tế cho phép” (Tuyên bố của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 3/9/2019).
Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

tối thiểu 10 chữ tiếng Việt có dấu không chứa liên kết

Tin cùng chuyên mục
Tin Mới Nhất
lên đầu trang