Lắng nghe công nhân để pháp luật đi vào cuộc sống

15/08/19 15:32
LDNA+
Quốc hội đang lấy ý kiến góp ý dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) với nhiều thay đổi “nóng” như: tăng tuổi nghỉ hưu, tăng thời giờ làm việc và thời giờ làm thêm… Phóng viên báo Lao động Nghệ An đã có cuộc trò chuyện với ông Đặng Ngọc Tùng - nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam xoay quanh vấn đề trên.

Đồng chí Đặng Ngọc Tùng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam trả lời phỏng vấn Báo Lao động Nghệ An - Ảnh: Hà An

 

Phóng viên (P.V): Liên quan đến quy định về tuổi nghỉ hưu, hiện 2 phương án đang được đưa ra lấy ý kiến đều có mục tiêu là nâng tuổi nghỉ hưu của nữ lên 60 và nam lên 62. Hai phương án chỉ khác nhau về lộ trình dài hay ngắn. Ông có ý kiến gì về nội dung này?
Ông Đặng Ngọc Tùng: Tôi đề nghị giữ độ tuổi nghỉ hưu như hiện tại. Bởi đa số công nhân lao động trực tiếp, đặc biệt là lao động nữ trong các ngành như cạo mủ cao su, dệt may, da giày, thủy sản, hầm lò... là những đối tượng không thể nào làm đến 60 tuổi để có được sổ hưu và được nhận lương hưu. Vì lẽ đó, tuyệt đại đa số công nhân tôi tiếp xúc đều không đồng tình về việc nâng tuổi nghỉ hưu. Được nghỉ hưu, được nhận sổ hưu là quyền lợi và nguyện vọng của mọi người lao động. Nếu máy móc đưa tuổi được nghỉ hưu của lao động nữ lên 60, chúng ta sẽ vô tình tước đi quyền được nghỉ hưu, được nhận sổ hưu của hàng triệu lao động nữ, những người đang lao động chân tay ở các nhà máy, xí nghiệp hầm mỏ, trong những ngành đặc thù như dệt may, da giày, thuỷ hải sản, hầm lò, khai thác khoáng sản, cao su… Thậm chí, chúng ta cần phải giảm độ tuổi nghỉ hưu của lao động nữ thuộc những ngành nặng nhọc hoặc độc hại đặc thù xuống còn 50 mới phù hợp với tình hình thực tế.
Bên cạnh đó, đối với các đối tượng lao động trình độ cao, làm công tác quản lý, nghiên cứu… nên vận dụng Khoản 3, Điều 187 của Bộ luật Lao động hiện tại để điều chỉnh tuổi nghỉ hưu của cán bộ công chức lên 60 (bình đẳng giới), tuổi nghỉ hưu của lao động trong ngành kiểm sát, ngành toà án... lên 62 hoặc 65 nhằm vận dụng tối đa chất xám, khả năng làm việc của các đối tượng nêu trên. Tuổi nghỉ hưu nên linh hoạt theo từng ngành nghề người lao động đang làm.
P.V: Xin ông cho biết quan điểm về thời giờ làm việc của người lao động trong dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi)?
Ông Đặng Ngọc Tùng: Ngày làm việc 8 giờ, tuần làm việc 48 giờ là thành quả đấu tranh của người lao động trên khắp thế giới. Từ ngày 1/5/1886, những người thợ đã giương cao khẩu hiệu: “Không một người thợ nào làm việc quá 8 giờ/ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi”. Tại Việt Nam, Bộ luật Lao động ban hành năm 1994 cũng quy định: Mỗi ngày làm việc 8 giờ, 1 tuần 48 giờ. Quy định này tại thời điểm đó là phù hợp.
Tuy nhiên, hiện nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới đã giảm giờ làm xuống 7 giờ/ngày, hoặc áp dụng tuần làm việc từ 36 - 40 - 44 giờ/tuần. Các nước ở gần ta như Trung Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ… đã áp dụng giờ làm việc là 40 giờ/tuần, Singapore là 44 giờ/tuần. Đặt biệt, Việt Nam cũng đã ban hành Luật Cán bộ công chức, Luật Viên chức điều chỉnh thời giờ làm việc rút ngắn còn 40 giờ/tuần từ lâu. Tại sao chúng ta không áp dụng khung thời giờ làm việc đó cho công nhân lao động? Không nên có sự chênh lệch giữa những người lao động trong cả nước. Tôi kiến nghị thống nhất giờ làm việc là 40 giờ/tuần, hoặc nhiều nhất là 44 giờ/tuần cho mọi người lao động bất kể loại hình trong, ngoài nhà nước, cán bộ công chức hay công nhân lao động ở nhà máy, xí nghiệp. Người lao động cần được nghỉ thêm chiều thứ Bảy để phục hồi sức khoẻ và có thời gian chăm sóc gia đình, nâng cao dần mức hưởng thụ đời sống văn hoá tinh thần.

Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Đặng Ngọc Tùng thăm công nhân ngành may - một ngành có mức thu nhập trung bình thấp (năm 2014)

 

P.V: Quy định về số giờ làm thêm hiện là một trong những vấn đề nhận được nhiều ý kiến trái chiều nhất. Trong dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi), thời gian làm thêm của người lao động được tăng từ 200 giờ lên đến 300 giờ/năm. Theo ông, như thế liệu có hợp lý?
Ông Đặng Ngọc Tùng: Tôi không đồng tình với quan điểm tăng giờ làm thêm lên đến 300 giờ/năm. Tôi khẳng định không một lao động nào muốn tăng ca nếu mức lương đủ sống. Vì lương thấp, không đủ trang trải cuộc sống buộc người lao động chấp nhận làm thêm giờ để đảm bảo mức sống tối thiểu. Người lao động nào cũng muốn được nghỉ ngơi, bồi dưỡng sức khoẻ, dành thời gian chăm sóc gia đình và hưởng thụ đời sống văn hoá tinh thần. Những ý kiến cho rằng tăng thời giờ làm thêm là nguyện vọng của người lao động vì giúp họ có thêm thu nhập, theo tôi là sự ngụy biện. Tôi lấy ví dụ: Đại biểu Quốc hội chúng ta mỗi tuần chỉ họp 40 giờ, nếu tăng lên 48 giờ nhiều đại biểu đã không đồng tình, huống gì người lao động đã làm việc 48 giờ/tuần, nay lại tăng giờ làm thêm. Đặt mình vào vị trí của người lao động sẽ thấy rõ điều đó. Cá nhân tôi phản đối và tổ chức Công đoàn Việt Nam cũng không tán thành tăng thêm giờ làm thêm lên đến 300 giờ/năm. Quy định về giờ làm thêm phải theo hướng có lợi cho người lao động và được sự đồng ý của người lao động.
Tăng thời gian làm thêm giờ không phải là một giải pháp dài hạn để tăng cường sản xuất. Thời gian làm việc dài trong một tuần (hơn 48 giờ/tuần) thường đi kèm tình trạng mệt mỏi, dẫn tới các vấn đề về sức khỏe. Bên cạnh đó, làm thêm giờ quá cao cũng khiến gia tăng tai nạn lao động. Ngoài ra, thời gian làm việc dài trong 1 tuần (hơn 48 giờ/tuần) cũng đi kèm với tình trạng mất cân bằng cuộc sống, công việc và làm tăng mâu thuẫn cuộc sống, công việc.
Nhiều ý kiến cho rằng hiện thời gian làm thêm giờ của Việt Nam còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới là chưa chính xác. Có thể quy định trần giờ làm thêm ở nước ta còn thấp hơn, nhưng thực tế quỹ thời gian làm việc tối đa của người lao động lại hơn so với một số nước trong khu vực. Hiện các doanh nghiệp ở Indonesia được phép huy động người lao động làm thêm tới 728 giờ/năm, nhưng họ chỉ làm việc 40 giờ/tuần; ở Hàn Quốc, quy định giờ làm thêm là 624 giờ/năm, giờ làm việc 40 giờ/tuần... Còn ở Việt Nam, giới hạn trần giờ làm thêm tối đa là 300 giờ/năm, nhưng phần lớn người lao động làm việc 48 giờ/tuần. Như vậy, quỹ thời gian làm việc của lao động Việt Nam vẫn ở mức cao so với các nước trong khu vực. Vì vậy, nếu lại tăng thời gian làm thêm giờ thì cũng đồng nghĩa với việc tăng quỹ thời gian làm việc tối đa của người lao động, như thế là đi ngược lại xu thế của đất nước và thế giới.
P.V: Ông có thấy đang có nhiều tranh cãi về lương làm thêm giờ?
Ông Đặng Ngọc Tùng: Dựa trên tinh thần tăng lương, giảm giờ làm nên đối với tất cả các trường hợp làm thêm giờ, người lao động sẽ được trả lương cao hơn. Để đảm bảo quyền lợi của người lao động, tôi đề nghị luật quy định tiền công làm thêm giờ phải tăng lũy tiến.
Ví dụ một ngày làm thêm 4 giờ thì 2 giờ đầu một mức, 1 giờ tiếp theo phải tăng lên và giờ cuối cùng phải tăng cao nhất. Bởi người lao động làm thêm đến giờ thứ 4 thì họ phải bỏ sức lực rất lớn, chi phí tái tạo sức lao động cũng lớn và nguy cơ bị tai nạn lao động cũng cao hơn. Theo tôi, Luật cần quy định rõ người lao động phải được trả tiền công lũy tiến theo các mức: 2 giờ đầu tính 150%, 2 giờ sau tính 200%, ngày nghỉ phải được trả 300%. Trả lương lũy tiến cũng ngăn ngừa tình trạng doanh nghiệp lạm dụng lao động, có như vậy mới buộc được các doanh nghiệp phải tính toán trước khi huy động lao động làm thêm giờ.
P.V: Ông có mong muốn gì để Bộ luật Lao động (sửa đổi) thực sự hoàn hảo?
Ông Đặng Ngọc Tùng: Quy định của pháp luật phải được xuất phát từ thực tiễn mới dễ đi vào cuộc sống. Tôi hy vọng Quốc hội lắng nghe những ý kiến nhiều chiều của các đối tượng chịu sự điều chỉnh của luật, đặc biệt là công nhân lao động trực tiếp, để có sự điều chỉnh Luật phù hợp và nhận được sự đồng tình cao.
P.V: Xin cảm ơn ông!
Hoàng Yến - Hà An (Thực hiện)
Từ khóa: Thời sự
Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

tối thiểu 10 chữ tiếng Việt có dấu không chứa liên kết

Tin cùng chuyên mục
Tin Mới Nhất
lên đầu trang