Nước Việt Nam là một

26/04/19 09:20
LĐNA

Dù ở “hai bên chiến tuyến” nhưng ai cũng hiểu, cũng mong: Nước Việt Nam là một! - Ảnh: Chu Chí Thành

1
Mãi những năm 2000 khi vào TP. Hồ Chí Minh học đại học, tôi mới gặp lại bác khi bác từ Mỹ trở về. Lúc ấy, bác đang làm cho Phòng Thương mại Mỹ - Việt trên cương vị Giám đốc điều hành.
Bác vốn là một công chức của Việt Nam Cộng hòa. Sự kiện ngày 30/4/1975 khiến bác cũng như nhiều người khác thay đổi cuộc sống. Sau khi đi Mỹ, bác và những người thân vẫn đau đáu ngày trở về để “làm được gì cho quê hương”. Quá khứ, kể cả những quá khứ đau thương đối với bản thân, bác khép lại và coi như “sự đời” của một giai đoạn lịch sử.
Hồi Mỹ vừa dỡ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, bác là một trong những doanh nhân đầu tiên trở về quê hương. Hồi đó, có những sự “giám sát” đối với bác, nhưng điều đó không khiến bác muộn phiền. Bởi mong ước lớn nhất của bác hồi đó là “đưa công nghệ hiện đại về phục vụ quê nhà”. Tuy vậy, mong muốn ấy của bác đã không thành, không phải bởi vì những lý do chính trị mà là lý do kinh tế. Những sản phẩm công nghiệp điện tử, dụng cụ y tế… mà bác đưa về kinh doanh đã không thể cạnh tranh nổi với hàng Thái Lan, Đài Loan vốn giá rẻ hơn rất nhiều.
Đáng nói, trước khi về Việt Nam năm 1995, bác quản lý một công ty bảo trì cao ốc tại Mỹ và là chuyên viên tư vấn bộ phận nhân lực của Chính phủ. Nhiệm vụ của bác là tư vấn việc làm cho người Việt định cư tại Mỹ. Nhưng, không thể ngồi một chỗ để làm “công chức mẫn cán”, nên sau 9 năm làm việc cho Chính phủ Mỹ, bác ra làm quản lý cho doanh nghiệp.
Tuy vậy, kể từ sau khi trở về Việt Nam, niềm mong mỏi “làm được gì cho quê hương” vẫn cháy mãi, đốt thành tàn tro cả những ký ức mà quá khứ đã gây nên cho bác. Vì làm công tác nhân lực, bác mở một công ty để mong muốn kết hợp các nguồn tài nguyên về nhân lực của Việt Nam và Mỹ. Bác suốt ngày như “con thoi” bay qua bay lại giữa Mỹ và Việt Nam chỉ để mong “đưa được càng nhiều bạn trẻ, doanh nhân trẻ” qua Mỹ tham quan, học hỏi”.
Không chỉ vậy, khi về quê bác thấy người dân có nghề đan cói, mây, tre… bác đã kết nối những công ty xuất khẩu và người dân để đưa sản phẩm mỹ nghệ qua Mỹ. Tuy vậy, không phải lúc nào mọi chuyện bác làm cũng thành công. Nhưng không sao, bác nói mình vẫn phải làm cho đến khi nào không còn sức khỏe. Mới đây, hỏi bác về cảm xúc khi 30/4 gần đến, bác bảo rằng: “Đó là một sự kiện lịch sử!”.

Hai người lính”- bức ảnh của khát vọng hoà hợp dân tộc

 

2
Vào TP. Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng tôi hay đi “Grabike”. Có lần tình cờ gặp một người lớn tuổi chạy xe, dáng khắc khổ. Đường kẹt nên tôi có thời gian hỏi chuyện. Thì ra ông cũng là một trong những quân nhân của Việt Nam Cộng hòa. Sự kiện ngày 30/4/1975, ông chỉ là quân nhân bình thường, cấp thấp nên chỉ “đi cải tạo” thời gian rất ngắn.
Rồi cuộc sống cứ thế trôi đi. Ông không nghĩ rằng đến giờ này mình vẫn còn chạy được xe ôm để “không làm phiền con, thỉnh thoảng mua đồ chơi, kẹo cho cháu nội”. Đôi lúc ký ức ập về, ông cũng chỉ nghĩ đó là “con tạo xoay vần”. Khi có người hỏi chuyện, ông mới trải lòng.
Ông kể rằng, hồi đó đi cải tạo một tuần về, cuộc sống cứ bình bình như thế. Nhưng cái cảm giác xã hội chuyển đổi cũng khiến ông không khỏi lo toan. Tính kiếm việc làm nhưng thực sự không nhiều cơ hội. Sau này, chính cái lý lịch “ngụy quân” của ông cũng gây nên nhiều phiền toái. Nhưng giờ hỏi lại, ông chỉ nói: “Đó là một phần của thời đại”.
Hồi ấy, khu nhà ông ở có cả “quốc gia” và “Việt cộng”. Ông biết có những người “nhảy bưng” nhưng thôi, mỗi người một lựa chọn. 30/4/1975, bỗng dưng ông thấy họ trở về. Rồi cuộc sống mưu sinh khiến cho những ký ức một thời “chinh chiến” của những người cùng khu không hẳn là đậm đà. Nó chỉ rộ lên khi chính quyền hàng năm kỷ niệm ngày giải phóng.
Trong lúc tưởng cuộc sống cứ bình bình trôi đi thì chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra. Nghĩ mình còn trẻ và cũng là để “chứng tỏ” cho mọi người thấy ông không phải là người vô dụng, ông xung phong tòng quân để chiến đấu chống lại Pol Pot. Cuộc chiến kéo dài nhưng may mắn nhất đời ông là còn sống trở về bên các con còn thơ dại.
Những ngày sau đó, ông có vẻ được “nhìn nhận” tốt hơn. Nhưng chuyện học hành, chuyện việc làm của con cái sau này cũng không hẳn là thuận lợi. Giờ ông cứ vui với đời, mỗi ngày chạy thêm xe ôm kiếm “vài trăm ngàn” cũng coi như đời còn biệt đãi. Bởi bạn bè ông ở cả hai phía nhiều khi đã chẳng còn cơ hội nhìn thấy con cái lớn lên từng ngày. Ông vẫn cho rằng: Dù sao thì cuộc đời vẫn còn nhiều điều tốt lành, dù không phải lúc nào mong ước của ông và gia đình cũng được thỏa nguyện. Chuyện quá khứ binh đao với ông dường như không còn là những vết hằn. Nó chỉ còn là những vết sẹo mà ít người nhìn thấy trên thân thể ông.
“Thôi thì chấp nhận số phận”, ông nói khi kết thúc hành trình và nhận tiền cuốc xe với nụ cười đôn hậu.
3
Năm 2014, tôi gặp Thiếu tướng Nguyễn Xuân Thành, lúc đó còn công tác tại Học viện Quốc phòng. Dù ngày 30/4/1975 đã qua đi mấy chục năm, tướng Thành vẫn còn nhớ như in ký ức về buổi trưa hôm ấy.
Bởi từ sáng 30/4/1975, tướng Thành lúc đó có mặt trong đoàn tiền phương Tổng cục Kỹ thuật, xuất phát sau các đơn vị chiến đấu, hướng về Sài Gòn. Khi tới cầu Sài Gòn thì người dân rất ngạc nhiên vì lần đầu tiên họ thấy “bộ đội Việt cộng”. Thấy bộ đội cũng hiền lành, nhiều người lưỡng lự giữa đi và ở.
Nhưng lúc vào tới Dinh Độc lập, thì tướng Thành và mọi người… không biết đi đâu nữa. Mãi tới 4 giờ chiều thì các đơn vị triển khai nấu cơm. Dân Sài Gòn kéo ra rất đông để… xem Việt cộng. Cơm nấu xong thì bộ đội dọn ra ăn, có người dân còn tò mò xin cơm để ăn thử. Thậm chí họ còn xin cả lương khô để… ăn cho biết. Bộ đội cũng vui vẻ lấy cho dân thử.

Quân giải phóng mang theo nồi nấu cơm khi tiến vào Sài Gòn

 

Điều mà tướng Thành nhớ nhất là hình ảnh những xe thiết giáp mang theo những sọt lợn, sọt gà để khi dừng chân hành quân thì thịt cho bộ đội ăn. Lúc ăn xong bữa cơm chiều ở công viên trước Dinh Độc Lập, bộ đội thả lợn ra, đem cơm thừa đổ vào một cái phướn to, rồi dùng thìa gõ vào những chiếc phướn, gọi lợn đến ăn cơm. Dân Sài Gòn thấy rất lạ và rất phấn khích. Những con lợn này đã quen với việc hành quân, nên khi được thả ra chúng cứ quanh quẩn ở đó với bộ đội, không đi đâu cả.
Có một chuyện thuộc về “công nghệ”. Đó là đoàn của tướng Thành lúc chập tối 30/4/1975 được một biệt động quân hướng dẫn đến Bộ Tổng tham mưu của Việt Nam Cộng hòa tiếp quản chiếc máy tính nhãn hiệu IBM. Tuy vậy, tướng Thành kể rằng, các cán bộ của đoàn tiền phương Tổng cục Kỹ thuật từ trước được đào tạo bằng máy tính của Liên Xô, nên không biết phải vận hành, sử dụng chiếc máy tính IBM thế nào trong khi những nhân viên của Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đi hết.
Đêm hôm ấy, cả đoàn ngủ lại tại đó nhưng một cảm giác rất lạ khi thấy bầu trời rực đỏ những viên đạn được bắn lên. Cảm giác vào giải phóng Sài Gòn vẫn là một điều bỡ ngỡ. Sự bình yên những ngày sau đó làm tướng Thành nhớ về quê nhà, nơi có mẹ già và các em đang trông ngóng. Bởi vậy trong bức thư đầu tiên viết về quê ngày 1/5/1975, tướng Thành mở đầu: “Mẹ và các em xa nhớ. Con đã vào đến Sài Gòn và còn sống”. Sau đó thì tướng Thành cùng anh em bộ đội từng tốp đi ra chợ Bến Thành mua đồ, gặp gỡ người dân, thăm thú các nơi…
Tuy vậy cho đến nay, tướng Thành vẫn đau đáu về “hòa hợp, hòa giải”. Ông từng tâm sự rằng: “Dân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt Nam là một, và bất cứ ai có dòng máu “con Lạc cháu Hồng” có lòng với quê hương, với xứ sở tươi đẹp đều nhận thấy rằng, sự hòa giải, hòa hợp là thực sự cần thiết cho đất nước Việt Nam phát triển, hùng cường”.
DƯƠNG TRẦN
Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

tối thiểu 10 chữ tiếng Việt có dấu không chứa liên kết

Tin cùng chuyên mục
Tin Mới Nhất
lên đầu trang