Phá tan kế “Hỗn thủy mạc ngư” của Trung Quốc

23/08/19 15:14
LDNA+
Sau khi dùng vũ lực để cưỡng chiếm một số đảo, bãi đá của ta trong quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hiện Trung Quốc đang âm mưu thực hiện “xâm lược mềm” ở Biển Đông. “Xâm lược mềm” mà Trung Quốc đang tiến hành là một cuộc chiến tranh kiểu mới hết sức nguy hiểm. Vũ khí mà kẻ xâm lược sử dụng là những biện pháp kinh tế, khoa học kỹ thuật, truyền thông, ngoại giao, pháp lý...

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết, Việt Nam phản đối việc Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam

 

Tấn công bằng dịch vụ khoa học, kỹ thuật
Hiệp hội Khí tượng Trung Quốc (CMA) đã công bố chính thức khai trương một số trạm thời tiết được xây dựng rải rác khắp quần đảo Trường Sa. Bộ Sinh thái và Môi trường Trung Quốc cũng thông báo rằng việc xây dựng đài quan sát khí quyển “Nansha Trung tâm” (南沙 大氣 環境 綜合 監測站) đã hoàn thành, bao gồm 15 chỉ số riêng biệt về các hiện tượng khí tượng khác nhau; cung cấp một cơ sở quan trọng để cải thiện quan sát khí tượng biển trong khu vực. Dữ liệu thu được từ các cơ sở có thể cung cấp thông tin quan sát hiện tại và cảnh báo sớm cho những sự kiện thời tiết khắc nghiệt... Các trạm thời tiết này sẽ cung cấp thông tin kịp thời và đáng tin cậy về chất lượng không khí xung quanh vì lợi ích của các quốc gia giáp Biển Đông; phát hiện khí nhà kính và các thành phần không khí độc hại khác…
Nếu chỉ xét về lĩnh vực khoa học khí tượng thủy văn, để đối phó với những biến đổi khí gây tác hại nghiêm trọng đến sự tồn tại của loài người... việc Trung Quốc xây dựng và đưa vào hoạt động các trạm khí tượng là việc làm đáng được đề cao, cần được nêu gương và khuyến khích.
Tuy nhiên, nếu các trạm khí tượng được Trung Quốc xây cất, lắp đặt ở trong phạm vi lãnh thổ của mình, hoặc ở trong lãnh thổ thuộc chủ quyền của quốc gia khác, sau khi được các quốc gia khác đó cho phép, thì có lẽ chẳng có gì phải bàn cãi. Điều đáng nói là trạm khí tượng nói trên được Trung Quốc xây dựng lại nằm trong phạm vi lãnh thổ của Việt Nam; đó là các thực thể địa lý thuộc quần đảo Trường Sa do Trung Quốc xâm chiếm từ năm 1988; sau đó, đã biến chúng thành các đảo nhân tạo. Đây là một hoạt động phi pháp, tiếp tục vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.
Hơn nữa, trong tình hình Biển Đông đang tồn tại những tranh chấp phức tạp, việc Trung Quốc tiếp tục lắp đặt và đưa các trạm khí tượng vào hoạt động còn là hành vi vi phạm nội dung Tuyên bố ứng xử trên Biển Đông (DOC), đi ngược lại những cam kết, thỏa thuận “giữ nguyên hiện trạng” ở Biển Đông mà Trung Quốc đã nhiều lần công khai thề thốt trước dư luận.
Việc Trung Quốc công bố đưa vào hoạt động các trạm khí tượng ở quần đảo Trường Sa là tiếp tục thực hiện chủ trương giành lấy sự công nhận trên thực tế yêu sách chủ quyền phi lý của họ trong Biển Đông, bằng cách giăng ra rất nhiều cạm bẫy hết sức nguy hiểm: lắp đặt, công bố và đăng ký hoạt động các trạm khí tượng thủy văn trong Biển Đông là một trong những cạm bẫy nguy hiểm được Trung Quốc đã từng rắp tâm cài cắm, nhưng không thành theo ý muốn.
Chẳng hạn, tháng 6/1980, tại Hội nghị Khí tượng khu vực châu Á lần thứ 2, Giơnevơ, đại biểu của Việt Nam đã tuyên bố trạm khí tượng của Trung Quốc đặt tại Sanhudao (đảo Hoàng Sa của Việt Nam) là bất hợp pháp. Kết quả là trạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam vẫn được giữ nguyên trạng trong danh sách các trạm khí tượng được Tổ chức Khí tượng thế giới (OMM) công nhận từ năm 1949 với số hiệu: Trạm Phú Lâm số 48859, Trạm Hoàng Sa số 48860 và Trạm Ba Bình (quần đảo Trường Sa) số 48419. Tuy vậy, Trung Quốc vẫn khai thác, lợi dụng nhu cầu cấp thiết cho sự tồn vong của đồng loại để tiếp tục “giăng bẫy” và, tìm cách thông qua các tổ chức chuyên môn quốc tế, để giành được lợi thế về mặt pháp lý, được đánh giá là rất yếu để bảo vệ quan điểm pháp lý của Trung Quốc dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế...
Tấn công bằng hoạt động thăm dò khai thác tài nguyên
Năm 2014, hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở phía Nam quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Quốc đã tính toán rất kỹ lưỡng khi chọn vị trí để hạ đặt giàn khoan. Vị trí này cực kỳ nhạy cảm, cách đảo Tri Tôn 18 hải lý, nghĩa là vượt quá 6 hải lý so với tiêu chuẩn tối đa 12 hải lý mà Công ước Luật Biển quy định đối với các đảo quá nhỏ bé, không thích hợp cho đời sống dân cư và không có đời sống kinh tế riêng. Nếu Việt Nam tuyên bố giàn khoan Hải Dương 981 đã vi phạm chủ quyền quần đảo Hoàng Sa thì đồng nghĩa với việc Việt Nam đã mặc nhiên thừa nhận các thực thể địa lý của quần đảo này có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Đây là một bẫy pháp lý rất tinh vi mà Trung Quốc đã giăng ra, đồng thời cũng là một trong những mục tiêu của mũi “tấn công mềm” mang tên Hải Dương 981 mà chúng ta đã phát hiện ra để vô hiệu hóa nó. Điều thú vị là về sau, phía Trung Quốc lại sử dụng cái bẫy bị vô hiệu hóa này để nói rằng: Việt Nam đã mặc nhiên từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa vì đã không lên tiếng phản đối khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển thuộc quần đảo này...
Mũi tấn công chủ lực mang tên tàu thăm dò Địa chất Hải Dương 08
Sau khi dùng vũ lực đánh chiếm 6 thực thể địa lý, những đá, bãi cạn, ở phía Tây Bắc quần đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1988, Trung Quốc lập tức bắt tay xây dựng 3 đường băng dài 3.000m trên các đảo nhân tạo ở đây, xây dựng các căn cứ quân sự và các cơ sở hậu cần kiên cố hiện đại nhằm phục vụ cho những mũi tấn công mới trong khu vực Biển Đông.
Như vậy, có thể thấy rằng, sau khi gây chiến tranh xâm lược bằng vũ lực các thực thể địa lý thuộc quần đảo Hoàng Sa năm 1956, 1974 và quần đảo Trường Sa năm 1988, Trung Quốc đang tận dụng mọi lợi thế về tài chính, quân sự, kĩ thuật, kinh tế để triển khai cuộc “xâm lược mềm”, bằng chiến thuật “gặm nhấm”, “cháo nóng húp vòng quanh” đối với các bãi cạn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hợp pháp của các quốc gia ven Biển Đông, như những gì đã xảy ra ở Đá Vành Khăn năm 1995, bãi cạn Scarborough 2012, Bãi Cỏ Mây... với nhiều thủ đoạn khác nhau để tăng cường sự hiện diện trên thực tế trong phạm vi yêu sách “đường lưỡi bò”.
Thậm chí, Bắc Kinh còn tìm cách mở rộng hoạt động phi pháp này bằng cách huy động lực lượng tàu thuyền đến hoạt động tại khu vực bãi cạn James cách bờ biển Malaysia chỉ 80km, Bãi Cỏ Rong ở phía Đông quần đảo Trường Sa, cách Philippines dưới 200 hải lý và gần đây, tiếp tục điều động các phương tiện, cùng với lực lượng tàu quân sự làm nhiệm vụ bảo vệ, tiến hành thăm dò địa chất tại khu vực bãi cạn Tư Chính, Vũng Mây, Quế Đường, Huyền Trân... ở cách bờ biển Việt Nam dưới 200 hải lý, hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Nơi đây, Việt Nam đang tiến hành thăm dò khai thác dầu khí và đã xây dựng các cụm dịch vụ mang tên DK, phù hợp với các quy định về quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển theo Điều 60, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) quy định về các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế và Điều 80 quy định về các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình ở thềm lục địa. Việt Nam có đặc quyền tiến hành xây dựng, cho phép và quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình dùng vào mục đích được trù định ở Điều 56 của UNCLOS 1982 hoặc các mục đích kinh tế khác trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Việt Nam tuyên bố không cố ý biến các bãi ngầm ở thềm lục địa phía Nam thành đảo nổi và không ghép chúng vào quần đảo Trường Sa, đồng thời bác bỏ sự gán ghép này.
Tất cả những hoạt động nói trên là những mũi tiến công được Trung Quốc tính toán để triển khai cuộc “xâm lược mềm” cực kỳ nguy hiểm trong bối cảnh khu vực và quốc tế hiện nay. Có thể nói Trung Quốc đang triển khai “mũi tấn công chủ lực” để tiến vào “tử huyệt” của những quốc gia mà họ coi là những “đối thủ đáng gờm” có khả năng cản trở bước tiến của họ xuống Biển Đông. Bởi vì, suy cho cùng, trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, nguồn tài nguyên sinh vật và không sinh vật, chứa đựng trong đó mới là “miếng bánh” ngon lành, hấp dẫn cần phải tranh giành, chứ không phải phạm vi là không gian của chúng.
Vì vậy, những hoạt động của Trung Quốc đã đe dọa trực tiếp tới những quyền và lợi ích chính đáng không chỉ của Việt Nam, mà còn của các nước khác trong khu vực, trong đó vấn đề được nhiều nước quan tâm nhất là quyền tự do hàng hải, hàng không quốc tế.
Phá kế “Hỗn thủy mạc ngư” bằng cách nào?
Với phản ứng quyết liệt của Việt Nam và một số nước, nhóm tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 có thể sẽ rời đi, với lý do là đã hoàn thành một đợt nghiên cứu hoặc vì một nguyên cớ nào đó. Nhưng đó chỉ là động thái mang tính chiến thuật, trước khi họ có những hành động quyết liệt nhằm hiện thực hóa mưu đồ biến Biển Đông thành ao nhà, biến vùng không tranh chấp thành có. Vì vậy, sớm muộn gì thì khả năng Trung Quốc tiếp tục quay lại khu vực này để tiến hành các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu chiến lược của họ là rất lớn.
Bài học lịch sử được rút ra từ sự kiện để cho quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa rơi vào tay Trung Quốc vào các năm 1956, 1974 và 1988, điều cốt tử là không tạo cơ hội cho Trung Quốc tiếp tục áp dụng kế sách tạo ra tình huống buộc chúng ta phải chấp nhận “chuyện đã rồi”, tiến tới mục tiêu ngắn hạn là “giữ nguyên hiện trạng”, vì “đại cục”. Nếu điều đó xảy ra, đồng nghĩa với việc chấp nhận trên thực tế những hành vi xâm phạm của Trung Quốc; chí ít là chấp nhận chủ trương “gác tranh chấp cùng khai thác” tại các vùng biển, đảo không thuộc về Trung Quốc.
Vì vậy, sau khi chúng ta đã công khai yêu cầu Trung Quốc rút các tàu vi phạm tại vùng biển Nam Biển Đông, nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục vi phạm, tiếp tục quấy phá, gây tổn thất đến sinh mạng và hoạt động kinh tế thì Việt Nam nên sử dụng hình thức đấu tranh cao hơn về mặt ngoại giao. Trước hết, Việt Nam nên xúc tiến việc thu thập hồ sơ, bằng chứng có liên quan đến các vi phạm của Trung Quốc, như tọa độ nơi xảy ra vi phạm, các bằng chứng về việc thăm dò, nghiên cứu, các hoạt động gây hấn của các tàu vũ trang của Trung Quốc… để lập hồ sơ pháp lý cho những bước đấu tranh ngoại giao pháp lý tiếp theo. Việt Nam có thể gửi lên các tổ chức liên quan của Liên Hợp Quốc, đưa vụ việc ra các Cơ quan Tài phán Quốc tế. Trên thực địa, các lực lượng chấp pháp cần cảnh giác, kiềm chế, hành xử theo đúng thủ tục pháp lý hiện hành; không mắc bẫy khiêu khích của Trung Quốc để họ kiếm cớ gây đụng độ vũ trang, gây bất ổn, làm ảnh hưởng đến các hoạt động khai thác dầu khí của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý.
Tuy nhiên, điều này không hạn chế các lực lượng chấp pháp trên biển thực thi quyền tự vệ chính đáng của mình trong trường hợp bị tấn công trước, nhất là đối phương đã gây rối, phá hoại sự an toàn đối với các giàn khoan dầu, các công trình nhân tạo trong phạm vi vùng an toàn 500m xung quanh. Hy vọng rằng các lực lượng chấp pháp của Việt Nam không buộc phải sử dụng quyền tự vệ chính đáng, trừ phi những vi phạm đó vẫn tiếp tục gây tổn hại đến các quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam.
Tiến sỹ Trần Công Trục
Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ
Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

tối thiểu 10 chữ tiếng Việt có dấu không chứa liên kết

Tin cùng chuyên mục
Tin Mới Nhất
lên đầu trang