Bác sĩ Tây học xứ Quảng và nghĩa tình với đất Nghệ

07/01/19 10:14
LDNA+
Trong ký ức của người con gái, bác sĩ Nguyễn Văn Tấn - một “đốc tờ” Tây học đầu tiên của xứ Quảng nhưng gắn bó với xứ Nghệ là một con người rất nặng nghĩa ân tình...
 
Một bác sĩ yêu nước
Trong ngôi nhà nhỏ bên bờ đê sông Hồng, bà Nguyễn Thị Hạnh - con gái đầu của bác sĩ Nguyễn Văn Tấn bồi hồi nhớ lại những năm tháng sinh ra và lớn lên trên mảnh đất xứ Nghệ. Trong mắt bà, cha mình là sự hòa trộn giữa sự nhẹ nhàng sâu lắng của người xứ Quảng, nhưng cũng rất nghiêm nghị, cương trực như tính cách của người xứ Nghệ.

Bà Hạnh, ngoài cùng bên trái nhớ lại những năm tháng gia đình cùng sinh sống ở xứ Nghệ

 

Bác sĩ Nguyễn Văn Tấn sinh năm 1911 tại làng Bồ Mưng (Điện Bàn, Quảng Nam). Dù nhà nghèo, nhưng học giỏi nên ông đã thi đậu vào Trường Quốc học Huế. Sau khi tốt nghiệp Quốc học Huế năm 1928, ông được Chính phủ Nam triều cấp học bổng cho đi du học Pháp và thi đậu vào ngành Y. Sau 7 năm học tập, ông đã tốt nghiệp bác sĩ y khoa tại Paris, và đậu tiếp vào làm bác sỹ nội trú tại bệnh viện tỉnh Angers rồi nhận thêm bằng bác sỹ y khoa nhiệt đới. Ngày đó, số sinh viên ở các nước thuộc địa thi đậu vào trường Y ở Pháp là rất hiếm, chưa nói đến chuyện thi đậu vào bác sĩ nội trú ở một bệnh viện Tây. Bởi Thực dân Pháp không muốn những bác sĩ ở xứ thuộc địa có trình độ chuyên môn cao có thể cạnh tranh với bác sĩ của chính quốc.
Sau hơn 10 năm sống, học tập và làm việc ở Pháp ông đã được hưởng thụ khá nhiều về tinh thần dân chủ bình đẳng bác ái của phương Tây. Tuy vậy ông vẫn đau đáu hướng về quê nhà, nơi mà đồng bào còn nhiều gian nan vất vả, không có thầy thuốc để chữa bệnh. Vì thế, năm 1939 ông quyết định về nước và được Chính phủ Nam triều bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Nhà thương Vinh.

Bác sĩ Tấn trong phòng làm việc của mình

 

Nhà thương Vinh được Thực dân Pháp xây dựng từ năm 1910, trên một khu đất khá rộng rãi thuộc dọc đường Phan Đình Phùng (TP.Vinh) ngày nay. Mục đích xây dựng Nhà thương Vinh của Thực dân Pháp là nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa, với quy mô khoảng hơn 100 giường bệnh. Nhà thương này được phân thành 2 khu riêng biệt. Khu A còn gọi là nhà thương bản xứ (chỉ phục vụ người bản xứ), có 2 dãy nhà trệt, nằm phía Bắc đường Phan Đình Phùng, tại khu vực vườn hoa Cửa Nam ngày nay. Khu B được xây dựng sau, khoảng năm 1919 và có 2 nhà 2 tầng. Đây còn gọi là nhà thương Lầu quan, nằm ở phía Nam đường Phan Đình Phùng chạy đến sát đường bờ sông Cửa Tiền ngày nay. Đúng như tên gọi của nó, khu vực này chỉ phục vụ nhân viên công quyền Pháp - Việt, mà chủ yếu là người Pháp.

Nhà thương Vinh

 

Là một trong số ít bác sĩ người Việt làm việc tại đây, lại là bác sĩ Tây học, giỏi chuyên môn, ông luôn tận tình với những người bệnh bản xứ nghèo khổ, vì thế được nhiều bệnh nhân tin tưởng. Chính điều này cũng khiến ông bị đám bác sĩ người Pháp ganh ghét. Tháng 1/1940 dưới sự bức ép của đám bác sĩ Tây, ông bị bắt đi quân dịch, làm thầy thuốc phục vụ cho quân đội Pháp trên chiến trường. Sau 9 tháng quân dịch, ông được giải ngũ, lúc này ông muốn quay về Nhà thương Vinh để tiếp tục công việc, nhưng bị viên Giám đốc người Pháp từ chối tiếp nhận lại.
Không được tiếp nhận lại, ông trở thành bác sĩ tự do, và mở phòng khám tư tại Vinh. Ông có nhiều thời gian nghiên cứu, đi đến những vùng đất xa xôi tìm hiểu về cuộc sống của người dân và giao lưu với những bạn bè y khoa như bác sĩ Tôn Thất Tùng - một người bạn cùng thời. Đặc biệt, trong thời gian này, ông đã gặp bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, người Bắc Ninh, một bác sĩ có tinh thần yêu nước. Mặc dù bác sĩ Luyện hơn ông tới 1 giáp, nhưng ở hai người có nhiều điểm chung, đặc biệt là chí hướng chống Pháp, bảo vệ người dân lao động nghèo khổ. Mặc dù được thực dân Pháp đào tạo, bảo vệ luận án bác sĩ Y khoa tại Pháp nhưng sau khi về nước năm 1928, bác sĩ Luyện quyết không làm việc cho Pháp, mà mở phòng khám tư nhân, ra báo Tin mới (năm 1940), viết sách và chữa bệnh cho người nghèo tại Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện là 1 trong 6 đại biểu Qốc hội đầu tiên của Hà Nội, được chọn tham gia ban cố vấn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau kỳ họp Quốc hội đầu tiên, ông được bầu làm ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đêm 19/12/1946 bác sĩ Luyện cùng 2 người con trai của mình đang là sinh viên y khoa tham gia lực lượng tự vệ thành đã hi sinh tại Hà Nội trong đêm phát lệnh toàn quốc kháng chiến.
Lại nói về bác sĩ Tấn. Sau khi gặp bác sĩ Luyện, vì mến mộ tài năng, và có cùng chí hướng, nên bác sĩ Nguyễn Văn Luyện đã gả con gái đầu của mình là bà Nguyễn Thị Mai cho ông. Bà Mai, tốt nghiệp cử nhân bán phần về Văn khoa và Luật khoa tại Đại học Đông Dương. Sau ngày cưới, bà Mai rời Thủ đô, theo chồng về Vinh. Sau này, cả 4 người con của vợ chồng bác sĩ Tấn đều sinh ra ở Nghệ An.
 
Nặng tình với xứ Nghệ
Bà Nguyễn Thị Hạnh - là con gái đầu của bác sĩ Tấn sinh năm 1944 nhớ lại: Ngày đó bố tôi là bác sĩ tự do nên không bị gò bó bởi sự cai trị của thực dân Pháp. Với trình độ chuyên môn của mình, ông có thể vào Sài Gòn hoặc ra Hà Nội, nhưng ông đã chọn ở lại Vinh, nơi có rất nhiều người dân nghèo đang cần ông. Sau 6 năm ông đã mua được một ngôi nhà hai tầng khang trang và 2 thửa đất rộng ở Vinh. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia cách mạng với vai trò là một bác sĩ quân y. Đến năm 1947 theo lệnh tiêu thổ kháng chiến của Chính phủ, ông đã cho san bằng ngôi nhà và đưa gia đình đi tản cư ở Nam Đàn và Thanh Chương.
Sau Cách mạng tháng Tám, Nhà thương Vinh cũng đã được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản, đến khi toàn quốc kháng chiến thì đổi tên thành Bệnh viện Hồ Chí Minh. Tháng 10/1946 bác sĩ Tấn được cử làm Trưởng ban Quân y tỉnh Nghệ An, Trưởng ban Quân y vụ Liên khu IV, kiêm Viện trưởng bệnh viện Hồ Chí Minh.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Bệnh viện Hồ Chí Minh đã được sơ tán về Thanh Chương, rồi Đô Lương, đồng thời tách thành 2 bệnh viện, dân y và quân y. Cũng thời gian này, sau khi chia tách, từ năm 1950 đến tháng 6/1955 bác sĩ Tấn được cử làm Viện trưởng Quân y Viện K43 (tiền thân của Bệnh viện Quân y 4 ngày nay). Công tác của ông trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp chủ yếu phụ trách lĩnh vực quân - dân y trên địa bàn Liên khu IV từ Thanh Hóa vào đến Quảng Trị. Tham gia xây dựng các bệnh viện, trạm xá, các phòng mổ, bệnh viện dã chiến của liên khu. Ông còn đào tạo y tá, y sỹ và trực tiếp tham gia mổ, cứu chữa thương bệnh binh và bệnh nhân của các tỉnh trong liên khu và tham gia cả các chiến dịch ở Thượng Lào, Trung Lào...
Bà Hạnh nhớ lại, trong những năm tháng chiến tranh, một mình mẹ với 4 chị em còn tuổi ăn tuổi lớn thật là vất vả. Công việc bận rộn, thỉnh thoảng bố mới đạp xe về thăm mẹ con nơi sơ tán được ít ngày rồi lại lên đường. Mỗi tháng phụ cấp của ông được 20kg gạo thì gần như đem về hết cho vợ con.
Hoà bình lập lại, tháng 7/1955, ông được điều ra Hà Nội làm Giám đốc Bệnh viện C (nay là bệnh viện Phụ sản Trung ương), rồi làm Phó Chủ nhiệm khoa Nội Bệnh viện Bạch Mai, rồi Giám đốc Bệnh viện C (bệnh viện dành cho cán bộ trung cao cấp). Năm 1961 ông được cử làm Chủ tịch Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương, chuyên viên cao cấp của Bộ Y tế.
Ra Hà Nội, dù công việc bận rộn nhưng với bác sĩ Nguyễn Văn Tấn vẫn giữ trong mình một tình cảm sâu nặng với mảnh đất, con người xứ Nghệ. Trong cuộc sống gia đình, ông luôn là người mẫu mực và cũng khá nghiêm khắc với con cháu. Ông thường nói: “Mình là cán bộ, đã có Nhà nước trả lương, cũng đủ ăn đủ tiêu, còn người ta, bệnh nhân, bệnh nặng, chữa bệnh đến kiệt quệ tiền nong, vậy mình còn lòng dạ nào nhận quà của người ta”- bà Hạnh nhớ lại.
Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

tối thiểu 10 chữ tiếng Việt có dấu không chứa liên kết

Tin cùng chuyên mục
Tin Mới Nhất
lên đầu trang