Tiếng Nghệ

12/02/17 15:14
LDNA+
Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi Như vị muối chung lòng biển mặn Như dòng sông thương mến chảy muôn đời (Lưu Quang Vũ)

"Cùng em khoác chiếc áo tơi ra đồng"

Trên dải đất Việt Nam cong cong hình chữ S, đất nước mà nhiều người nước ngoài ví như cây đàn, mảnh đất xứ Nghệ nằm ở giữa, thanh mảnh nhưng cứng cỏi, kiên cường đồng hành cùng các vùng miền, cùng cả dân tộc trong suốt quá trình lập nước, dựng nước và giữ nước, gánh trên vai hai đầu đất nước. Với vị thế địa- chính trị, địa- văn hóa đặc thù đó, từ bao đời, vùng đất này đã hình thành và cố kết nên một không gian tự nhiên - xã hội vừa thống nhất đồng quy với dân tộc vừa có những đặc điểm riêng, với tính nổi trội là sự đối lập đến “cực đoan” của hai mặt “tốt- xấu” trên nhiều phương diện…

Thiên nhiên thì “non xanh nước biếc như tranh họa đồ” (Ca dao) nhưng kèm theo đó là cũng là vùng đất của “những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ; những đồi sim không đủ quả nuôi người” (Thơ Chế Lan Viên), “gió Lào thổi rạc bờ tre” (Thơ Nguyễn Bùi Vợi)… Vùng đất của người dân lam lũ, nghèo khổ nhưng cùng từ đây rèn đúc những chí lớn, những anh hùng, hào kiệt làm rạng danh quê hương đất nước. Con người xứ Nghệ quyết liệt đến “gàn”, bộc trực đến “thẳng như ruột ngựa” nhưng cũng rất giàu tình nghĩa, thủy chung “Giận thì giận mà thương lại càng thương”… Phải chăng, những nét trội, riêng có đó là nguồn cội tạo thành cốt cách của con người, bản sắc văn hóa của một cộng đồng, đặc sản của vùng đất? Trong số đó, có một thứ “đặc sản”, thể hiện rõ nhất bản sắc và cốt cách của con người xứ Nghệ là  “tiếng Nghệ”. Tiếng Nghệ là một vùng phương ngôn trong đại gia đình ngôn ngữ dân tộc Việt, có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có một số đặc thù so với nhiều phương ngôn khác và so với ngôn ngữ toàn dân.

        Thực ra, các phương ngôn các vùng khác cũng có những điểm riêng “đánh dấu” bản sắc của cộng đồng. Ngữ âm phương ngôn vùng Bắc bộ không phân biệt tr/ch, s/x,r/d; một số nơi còn lẫn lộn giữa n/l. (Vì thế nên mới có chuyện, khi cô giáo hỏi học sinh: Em cho biết Viêng Chăn là thủ đô nước lào? Thì học sinh trả lời: Thưa cô, Viêng Chăn là thủ đô nước Nào!). Tiếng Quảng Nam (thuộc phương ngôn Trung Bộ) là thổ ngữ khá dị biệt ở dải đất miền trung. (Chẳng hạn, khi phát âm, người ta hầu như không phân biệt rõ các âm a/ô/e… Cho nên mới có giai thoại một nhà thơ quê Quảng Nam đọc câu thơ: …Ngọn cỏ mềm kêu đau thành: Ngoọng cỏ mèm ke đe… Với những chữ số: 35787 người vùng này đọc nghe như: bo nôm bựa té bựa; lốp xe đạp phát âm na ná: láp xe độp). Phương ngôn Nghệ Tĩnh (Tiếng Nghệ) cũng  là một hiện tượng có những đặc thù và so với phương ngôn các vùng khác, nó mang tính hệ thống, phong phú ở nhiều phương diện.

Trong giao tiếp thường nhật với nhau, người Nghệ thường phát âm ở quãng âm vực thấp, nặng, trường độ ngắn, tốc độ nhanh, mạnh, ít luyến láy nên nghe người Nghệ nói chuyện mà người Bắc tưởng như “cãi nhau”, nghe rất “nảy lửa”; nghe có vẻ “nhọc nhằn” (Nguyễn Bùi Vợi) hay” buồn cười đáo để” (Phạm Tiến Duật)…Tiếng Nghệ có một hệ thống từ vựng đặc thù, bao gồm: các từ ngữ biến âm (tru/trâu, hun/hôn, mi/mày…) hay khác âm (cươi/sân, mô/đâu, mần/làm…) so với từ phổ thông. Từ ngữ tiếng Nghệ phong phú đến nỗi đã có nhiều nhà nghiên cứu tập hợp thành từ điển phương ngôn Nghệ Tĩnh, đối chiếu và giải nghĩa chúng như thể là ngoại ngữ vậy! Lại có cả những thơ, bài văn vần học tiếng Nghệ (như Tam tự kinh) phổ biến trên báo mạng khá là thú vị…

         Không chỉ có tính đặc thù về ngữ âm, từ vựng, tiếng Nghệ còn có lối “chơi chữ” (dựa vào hiện tượng đồng âm, nói lái, đánh tráo khái niệm…) sinh động, dí dỏm mà một số vùng ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh còn lưu giữ đến tận ngày nay. Thực ra, ở nước ta  nhiều vùng quê có lối nói độc đáo riêng của mình (như tiếu lâm ở làng Văn Lang huyện Tam Thanh tỉnh Vĩnh Phúc, nói trạng ở Huỳnh Công Tây, thuộc xã Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh; xứ  Nghệ cũng có nhiều làng xã có thói quen nói trạng). Vùng Yên Huy (thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) có kiểu nói lối thuộc trong số đó. Một vài mẩu đối thoại vui:

    *  Ở  nông thôn đến mùa  mùa cấy, người ta thường chuẩn bị chẻ lạt, vót đũa cho thợ cày, thợ cấy ăn cơm. Thấy ông hàng xóm đang ngồi vót đũa, ông bạn đi qua hỏi: - Ôông (ông) vót đụa( đũa) để ăn cấy à?(ý hỏi vót đũa để ăn vào dịp cấy à?). Trả lời: Tui (tôi) vót đụa (đũa) để ăn cấy (cái), lưa nác (còn nước) thì đạ (đã) có thìa rồi.

   *Một bác đang cày dưới ruộng, bác hàng xóm đi qua, hỏi: Cày mần chi rứa ôông (cày để làm gì thế ông)? Bác thủng thẳng trả lời: Cày để bừa!

        Khi về, bác chạy nhanh đuổi bò, đang vội thế nhưng khi nghe hàng xóm hỏi: Có chuyện chi mà chạy khiếp rứa (có chuyện gì mà chạy thế)? Bác dừng lại một cách đột ngột, trả lời: Chạy cho mau !

     * Hai ông xã viên  ra đồng hỏi thăm nhau: - Cày mô rứa ôông (cày ở đâu thế ông) ?   - Cày trửa rọong (cày giữa ruộng).  - Rứa (thế mà) tui (tôi) tưởng cày trên vai ôông (ông) ?   - Ờ hẹ (ừ nhỉ) !

      * Có hai anh dùng võng khiêng người ốm lên trạm xá, đang vội thế, nhưng khi người đi đường hỏi thăm: Có nặng không (ý hỏi có ốm nặng lắm không), một anh trả lời: Chưa kịp cân!

      Tìm hiểu thực tế mới thấy quê hương bản quán chúng ta còn lưu giữ nhiều vốn cổ, nhiều thuần phong mỹ tục hầu như chưa bị pha tạp, dù môi trường xã hội đã có nhiều thay đổi. Làng quê đã nuôi ta lớn và giữ cho ta nhiều điều tốt đẹp. Mỗi vùng một giọng, mỗi vùng một cách nói thể hiện rõ “đất lề quê thói” từ bao đời.

      Thoát thai từ trong lao động sản xuất, ca từ của dân ca cũng như lời ăn tiếng nói hàng ngày, sử dụng nhiều từ địa phương, phản ánh tính hai mặt của con người xứ Nghệ: thẳng thắn nhưng tế nhị, bộc trực nhưng thâm thúy, trữ tình nhưng cũng rất hóm hỉnh, nghịch ngợm… Đây là lời nói với bạn: Ở nhà mới bước chân ra/ Nom (trông) thấy mặt bạn như ga (gà) chó đòi (đuổi). “Ga chó đòi” là thành ngữ chỉ sự hốt hoảng, thiếu bình tĩnh. Lời hát vừa là nhận xét vừa là sự chế giễu về thần thái của bạn mình. Một người vợ nói về chồng mình: Chồng người vác súng đòi voi/ Chồng em vác đũa đòi ròi (ruồi) bên mâm.

Lời hát bao hàm một sự than trách và trào lộng. Có cô gái nghịch ngợm, cất tiếng hát ví mình như quả khế chua, ai cũng thèm, nhưng lại ở chỗ cấm: Em như trấy (quả) khế trong chùa/Ông đi qua, bà đi lại, chộ (thấy) của chua cũng sèm (thèm).  Bên nam đối lại: Em như trấy khế trong chùa/ Cho anh, anh không lấy/ Bán cho anh, anh nỏ (chẳng) mua . Vì chưng thằng cu anh hắn dại, chộ (thấy) của chua hắn sèm (thèm)… Nhiều lời hát thể hiện tính hài ước, vui đùa. hån nhiªn nhưng cũng có khi thâm thúy: Chết thì chúc thực điểm trà/ Sống thì xin đọi nác cà (bát nước cà) nỏ cho. Ta có thể tìm thấy ở đây nét văn hóa của một lối sinh hoạt đầy ắp hơi thở cuộc sống, thấm đẫm giọt mồ hôi, giọt nước mắt của tiếng khóc, tiếng cười của người lao động ngày xưa.  

Nhưng đừng nghĩ tiếng Nghệ chỉ có mặt bổ bã, khó nghe như gió Lào, “lục cục lào cào” đất cằn sỏi đá. Tiếng Nghệ cũng có mặt tinh tế, dịu dàng như tiếng nói phương ngôn Bắc, có cái đằm thắm, sinh động như tiếng nói phương ngôn Nam… Những từ: mần, trặc, chộ, nỏ, mô của tiếng Nghệ cũng rất đa nghĩa, nhiều sắc thái. Chàng trai nào mà nghe cô gái Nghệ nói : Em nỏ mô thì sức hút “ma mị đến chết người” cũng chẳng khác gì Ứ ừ của cô gái Hà Nội “lũng lịu” người yêu…

Trong thơ Phạm Tiến Duật, anh lính lái xe ngang tàng thế mà khi nghe tiếng các cô gái thanh niên xung phong quê Hà Tĩnh đã phải tâm phục khẩu phục “lặng người như trôi trong tiếng ru”… Sức diễn tả của từ địa phương có khi lại “đắc địa” hơn từ phổ thông nếu dùng hợp ngữ cảnh, đúng tâm trạng. Chẳng hạn từ trong câu ví: Rồi mùa toóc rả rơm khô/ Bạn về quê bạn biết nơi mà tìm. Câu hát giã bạn để chia xa những ngày cùng phường hội cày cấy. ở đây vừa là từ để hỏi, vừa là từ phiếm chỉ nơi chốn không xác định. Câu ca không nói đến lưu luyến mà cái tình ý ấy chan chứa trong từ mô, toóc, rả chân chất, làm cho lời hát thấm đẫm tình cảm của “một thời quá vãng” còn nguyên vẹn vẻ tinh khôi…

Trong quá trình giao lưu và hội nhập, tiếng Nghệ đã hòa vào dòng chảy tiếng Việt, làm phong phú thêm ngôn ngữ dân tộc. Nhìn chung, tiếng Nghệ bây giờ không còn là  “ốc đảo” gây trở ngại khi giao tiếp với các vùng miền; có những từ ngữ đã đi vào ngôn ngữ chung (như: mô, nỏ, tau, mi, đập, rớt…); người xứ Nghệ đi ra đã mang theo tiếng Nghệ đến với các miền quê và đã hòa nhập rất nhanh với tiếng Bắc, tiếng Nam và ngôn ngữ phổ thông; vả lại, nhiều người ở các vùng đã tiếp cận tiếng Nghệ, hiểu tiếng Nghệ. Trên báo mạng còn đây giáo trình “Tự học tiếng Nghệ An cấp tốc 24h”, mới ra đời đã tạo ra cơn sốt khi có nhiều bạn trẻ hồ hởi học Nghệ ngữ. Các bạn chia sẻ: học thêm tiếng nói của một địa phương chính là để hiểu thêm văn hóa của mảnh đất ấy. Học để nghe và hiểu được tiếng Nghệ lại chẳng dễ chút nào, bởi mỗi nơi, mỗi vùng, âm điệu, từ ngữ có sự khác biệt nên “Nghệ ngữ” đang “hút hồn” giới trẻ…

 Trong hành trình của mình, có những mặt tiếng Nghệ cần bảo lưu (giữ lấy tích cực) thời phải tiếp biến và giao thoa với ngôn ngữ - văn hóa các vùng miền, để tiếp tục làm tròn sứ mệnh là “tiếng nói có bản sắc” trong giao tiếp hàng ngày, trên các phương tiện truyền thông, trên các diễn đàn, các điểm du lịch, lễ hội… Thiết nghĩ, trên cái nền của những lợi thế và tiềm năng về tự nhiên và con người, cần phải có giải pháp để Tiếng Nghệ, cùng với dân ca ví giặm và các “đặc sản” khác của quê hương (như: cháo lươn Hưng Nguyên, tương Nam Đàn, cam Vinh, bưởi Phúc Trạch…), tất cả châu tuần lại thành một nguồn lực mạnh, thương hiệu hấp dẫn, đủ sức thu hút đầu tư và du khách để góp phần thật rõ rệt vào việc đưa xứ Nghệ bứt tốc nhanh về kinh tế - văn hóa - xã hội trong chặng đường phía trước…

Phan Mậu Cảnh
Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

tối thiểu 10 chữ tiếng Việt có dấu không chứa liên kết

Tin cùng chuyên mục
Tin Mới Nhất
lên đầu trang