Chia sẻ, đùm bọc - dắt nhau tới thịnh vượng

21/02/18 15:52
LDNA+
Làng quê Bắc Bộ, không trải dài theo các con kênh, rạch, mà được cấu trúc như những Boong Ke chống lại sự đồng hoá của phong kiến phương Bắc, bao quanh bởi luỹ tre làng, lấy cây đa bến nước sân đình làm trung tâm văn hoá. Đùm bọc lẫn nhau như là một cách cộng sinh, sức đề kháng, một giá trị của người Việt không thay đổi suốt hàng nghìn năm. Tuy nhiên, tính chất, mức độ và phương thức “đùm bọc” này trải qua nhiều thay đổi...
Qua cơn hoạn nạn
Kinh tế tập thể, hợp tác xã bậc cao thập niên 80 tuy không gây ra đại án hàng chục, hàng chục nghìn tỷ nhưng đã đưa nền kinh tế Việt Nam vào trạng thái kiệt quệ, cộng thêm việc bị cấm vận và việc bất hợp pháp hoá hoạt động kinh doanh, kiểm soát xã hội bằng tem phiếu làm cho đời sống người dân thời kỳ bao cấp vô cùng thiếu thốn.
Trong bối cảnh thiếu thốn mọi mặt, người Việt lại càng đùm bọc, tương trợ, sáng tạo để duy trì cuộc sống. Không có tiền mua và cũng không được phép mua vật liệu dựng nhà, đôi vợ chồng trẻ phải đi quanh làng xin mỗi hộ một cây tre về dựng nên “túp lều tranh” che chở “trái tim vàng”; việc nhất định phải nhờ hàng xóm. Khi già yếu, ốm đau trọng bệnh, không xe taxi tư nhân, không xe cấp cứu của nhà nước, không xe máy, hàng xóm đưa nhau bằng cái cáng làm bằng cây tre nối từ gác - ba - ga xe trước ra ghi - đông xe đạp đằng sau; việc nhất định phải nhờ hàng xóm, người thân. Khi chết đi, không xe tang, không có dịch vụ mai táng, những đôi vai của thanh niên làng sẽ tiễn đưa người quá cố tới nơi yên nghỉ cuối cùng.
Đùm bọc, chia sẻ đến độ, dường như rất ít cái còn là của riêng, đến mức tiệm cận với công xã nguyên thuỷ (trừ vợ - chồng). Dưới góc độ sở hữu, làng quê có tập tục dùng chung bát đũa, bàn ghế. Không ai được cấp tem phiếu đủ mua hàng trăm bộ bát đĩa, bàn ghế; mà có làm lãnh đạo được dúi cho tập tem phiếu thì cũng chẳng ai dại sắm hàng trăm bộ bàn ghế làm gì. Nên quan chức cũng như thường dân, có đám là lại huy động bàn ghế, bát đĩa của hàng xóm. Mượn thì phải trả; tránh bị trả nhầm, các gia đình dùng vôi ghi ký hiệu lên đít bát đĩa, gầm bàn, gầm ghế. Mình mượn hàng xóm, thì lúc hàng xóm cần mình phải cho mượn lại, kể cả lúc nhà mình đang có khách. Tư hữu đối với các tư liệu sản xuất này được nhà nước tôn trọng; nhưng các hàng xóm đã ngầm thoả thuận quyền sử dụng trở thành “công hoá”.
Không luật pháp, không một văn bản nào mô tả, nhưng giữa hàng xóm láng giềng tồn tại những quy tắc bất thành văn, một sự đồng thuận, mà dưới góc nhìn pháp lý giữa họ tồn tại một “hợp đồng xã hội” cùng dìu nhau vượt qua khó khăn chờ đến khi Đổi Mới.
Đùm bọc theo mô hình này rất tình cảm, rất thắm thiết. Nhưng tình cảm, thắm thiết chỉ có thể xác lập giữa những người thân quen không mở rộng vượt quá làng xã được; nó không giúp tiến tới tích tụ tư liệu sản xuất để đạt lợi thế về quy mô. Đùm bọc kiểu này không được luật pháp quy định, bảo đảm thực thi bởi nhà nước nên chứa đựng rủi ro, không thích hợp với người lạ và thiếu vững chắc. Đùm bọc kiểu này thường không hướng tới các lợi ích kinh tế, hay nếu có hướng tới thì chỉ ở mức cùng nhau sống sót, chứ không hướng tới kinh doanh; và nếu có hướng tới thì cũng bị xem là bất hợp pháp; bởi vậy nó không hấp dẫn dưới góc độ sinh lời. Bởi vậy, mô hình đùm bọc này rất phù hợp để cùng nhau vượt qua hoạn nạn theo phương châm:
Lá lành đùm lá rách;
Lá rách ít đùm lá rách nhiều.
Bước sang Đổi Mới, Việt Nam vụt thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng hàng thứ ba thế giới chỉ sau khoảng 5 năm; còn ít người đói; ít người rách; việc kinh doanh được khuyến khích; việc sử dụng dịch vụ được hợp pháp hoá trở lại… cứ thế, cứ thế, sau một cuộc điện thoại taxi về bản, ngôi sao ca sĩ về tận làng biểu diễn, dịch vụ mai táng kèn trống, khóc thuê thâu đêm. Sang trang mới, hàng xóm có thể tồn tại biệt lập; “tình làng” tái định hình trong kinh tế thị trường sơ khởi; tinh thần “đùm bọc” đi tìm mô hình mới.
 

Quy mô tập trung hóa tư liệu sản xuất, tối