Lý Sơn - mùa khao lề

12/02/18 08:50
LDNA+
Sau 5 ngày vượt sóng, đoàn chúc Tết của Bộ Tư lệnh vùng 3 lại xuôi tàu từ Cồn Cỏ vào Nam ghé đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). Mùa biển động, những con sóng dâng cao ập vào mạn tàu khiến cho việc cập đảo gặp nhiều khó khăn hơn dự tính. Hòn “đảo tỏi” đang độ vào xuân, ngoài những đào, quất được mang ra từ đất liền làm tăng thêm không khí Tết, dân đảo cũng đang tất bật chuẩn bị các vật phẩm để khao lề thế lính Hoàng Sa…
Mộ gió
Lý Sơn có diện tích vào khoảng 10 cây số vuông, với 3 hòn đảo (cù lao Ré, cù lao Bờ Bãi và hòn Mù Cu). Hiện nay huyện đảo này có khoảng 20.000 dân, chia làm 3 xã An Vĩnh, An Hải và An Bình. Truyền thuyết dân tộc Kor kể rằng, đảo Lý Sơn là một phần của vùng núi Trà Bồng xưa. Sau một trận giao tranh dữ dội của thần Nước và người anh hùng Doang Đác Tố - Chủ làng Tali Talok thì đất bị tách đôi, trôi dạt về phía Biển Ðông mà thành đảo, thành làng. Ngày nay, trên Lý Sơn vẫn còn lưu giữ nhiều câu chuyện kỳ bí với những bãi Tiên, giếng Tiên, đền Cá ông…
 

Các chiến sĩ Hải quân giúp các em học sinh trên đảo hiểu rõ hơn về người anh hùng Phạm Hữu Nhật bên mộ gió của ông ở làng An Vĩnh - Ảnh: Tiến Đông

Những câu chuyện kỳ bí cũng chỉ là cách để người dân trên đảo tự tìm niềm an ủi, là chỗ dựa về mặt tâm linh cho mình giữa biết bao giông tố, trước mỗi chuyến vươn khơi. Thực ra, theo các nhà địa chất, hòn đảo xinh đẹp này được hình thành do vận động phun trào nham thạch của các núi lửa phủ lên nền những nếp gấp tạo sơn. Chính các lớp trầm tích nham thạch trải qua các thời kỳ biển tiến đã tạo nên nhiều hang động, cổng đá. Một khi không lý giải được, người xưa lại phủ lên nó những câu chuyện đầy vẻ liêu trai.

Những ngôi mộ gió trong khuôn viên Âm linh tự đã được vun vén vuông vức

Bước chân lên Lý Sơn, trong không gian đậm mùi gió biển, giữa bạt ngàn những cánh đồng tỏi ngát hương là những ngôi mộ đắp cát vuông cạnh, mới được người dân địa phương vun lại trước khi đón Tết. Người ta bảo đó là mộ gió, nơi tưởng vọng những linh hồn hùng binh Hoàng Sa đã một đi không trở về. Lật dở lại lịch sử, theo những ghi chép trong các thư tịch cổ và gia phả các dòng họ sinh sống lâu đời trên đảo Lý Sơn còn để lại, sau khi chúa Nguyễn vào khai phá xứ Đàng Trong, hàng năm đều tuyển chọn 70 dân phu, khỏe mạnh, cường tráng, giỏi nghề đi biển để thành lập “Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải”, vượt sóng ra quần đảo Hoàng Sa, làm nhiệm vụ đánh dấu, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Sách Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn năm Minh Mạng thứ 17, Bính Thân - 1836 có ghi rằng “Bản quốc hải cương Hoàng Sa xứ tối thị hiểm yếu”, nghĩa là đối với lãnh hải nước ta thì Hoàng Sa là nơi cực kỳ quan trọng. Mới thấy rằng triều đình phong kiến xưa cũng đã coi việc xác lập, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên biển là điều hết sức cần thiết.
Các hùng binh Hoàng Sa khi ra khơi thường đi trên 5 chiếc ghe câu có gắn buồm. Hành trang họ mang theo là 6 tháng lương thực, 1 đôi chiếu, 7 nẹp tre, 7 sợi mây buộc dài và 1 thẻ bài ghi rõ danh tính, bản quán, phiên hiệu và cột mốc bằng gỗ ghi niên hiệu để xác lập chủ quyền. Không ai ngờ, cũng chính những vật dụng mang theo đó lại là thứ bó xác họ để gửi theo con sóng đưa về đất mẹ Lý Sơn. Chừng ấy năm, có biết bao người ra đi nhưng mãi không về. Thể xác cũng hòa tan theo sóng biển Hoàng Sa. Để tưởng nhớ con em mình, người dân Lý Sơn đã ra bờ biển, lập những ngôi mộ gió chiêu hồn lính Hoàng Sa.
Trong số hàng trăm ngôi mộ gió nằm rải rác trên đảo, tôi tìm đến ngôi mộ gió của Chánh đội trưởng thủy quân Phạm Hữu Nhật nằm ở xã An Vĩnh. Trên tấm bia mộ được đặt trang trọng còn ghi rõ “Năm Minh Mạng thứ 17 (Bính Thân - 1836), Phạm Hữu Nhật đã đưa binh thuyền đi xem xét, đo đạc, cắm mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa. Trên mỗi binh thuyền đều đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài gỗ khắc chữ “Minh Mạng thập thất niên Bính Thân thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương độ chí thử lưu chí đẳng tự”. Liên tiếp trong 18 năm ròng, Phạm Hữu Nhật phụng mệnh nhà vua, dẫn các đội binh thuyền ra quần đảo Hoàng Sa để đánh dấu chủ quyền. Nhưng rồi cũng không tránh khỏi được số mệnh, năm 1854 trong một chuyến ra khơi, ông và nhiều người đã không trở về.
Mùa khao lề
Người Lý Sơn vẫn nhớ như in câu chuyện đầy bi thương. Rằng trước khi lên đường, các binh phu của Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải được gia đình, dòng họ “đãi tiệc” bằng một bữa bánh ú, bánh ít gói trong lá bàng vuông. Có những người, đó là bữa ăn cuối cùng với gia đình. Người dân Lý Sơn gọi đó là khao lề (lễ ăn khao). Và cứ sau một năm, những binh phu mới được tuyển mộ để thay thế cho lớp binh phu đã tử nạn, hoặc hết hạn làm nhiệm vụ thì được gọi là “thế lính”.

Ông Trần Đến lau dọn các ban thờ trong đình làng chuẩn bị cho lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa

Lịch sử đã sang trang, nhưng để tưởng nhớ con em mình đã ra đi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa, cứ vào dịp đầu năm người dân trên đảo Lý Sơn lại đến bên những ngôi mộ gió, đắp lại mộ cho vuông, sửa soạn đồ lễ, kết những hình nộm bằng rơm và đóng những con thuyền gỗ nhỏ để tổ chức lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Đây trở thành một nghi thức văn hóa tín ngưỡng đặc trưng, độc đáo không nơi nào có được. Nó không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn văn hóa của ngư dân Lý Sơn, thể hiện sự tưởng nhớ đến các thế hệ đi trước, mà còn mang ý nghĩa lớn trong việc góp phần khẳng định chủ quyền lãnh thổ của đất nước ta trên các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa trong nhiều thế kỷ từ các chúa Nguyễn, triều đình nhà Nguyễn và đến tận bây giờ.
Ông Trần Đến - Trưởng làng An Vĩnh, một trong những nơi thường tổ chức lễ khao lề thế lính Hoàng Sa hàng năm giải thích rằng: Hành trang của những binh phu Hoàng Sa năm xưa tuy rất đơn giản nhưng lại nặng tình với quê hương và thể hiện ý thức trách nhiệm với Tổ quốc. Ngoài trách nhiệm vua giao, mỗi binh phu khi ra đi còn được phát lương thực, phát ruộng. Những thứ đó đều để lại cho gia đình, dòng họ, nào mấy ai có ngày về mà hưởng.
Vào ngày chính lễ, người dân các làng trên đảo Lý Sơn sẽ tập trung làm lễ rước vong linh các hùng binh của Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải từ Âm linh tự về đình làng. Sau đó làm lễ tế tại đình làng, bởi ngày xưa trước khi lên đường các đội quân này cũng tập trung tại đình làng. Ông Đến bảo, sau khi cử hành lễ xong, dân làng sẽ đem những chiếc thuyền con, trên thuyền có những hình nhân bằng rơm được nẹp bằng 7 thanh tre, thả trôi ra biển. Hình ảnh những người lính ngày xưa ra đi được tái hiện lại, nhưng cũng là để gửi gắm ước mong xua đi những xui, rủi, bảo vệ cho ngư dân trong một mùa biển mới.
Tiến Đông
Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

tối thiểu 10 chữ tiếng Việt có dấu không chứa liên kết

Tin cùng chuyên mục
Tin Mới Nhất
lên đầu trang