Moscow, Rasul và lời tạ ơn cánh đồng

25/01/19 16:27
LDNA+
Tôi có may mắn được đến Liên bang Nga khá nhiều lần, lại vinh dự được diện kiến nhiều quan chức cao cấp tại xứ sở Bạch dương.
Lần gần nhất, tôi là nhà báo đi đưa tin về hoạt động của đoàn công tác cấp cao của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng; trước đó tham gia Diễn đàn Kinh tế Phương Đông ở vùng Siberia (Tây Á Lợi Bá) - Viễn Đông nước Nga, với sự tham dự của nguyên thủ hàng đầu 60 quốc gia. Có lần dự tiệc trưa với Thống đốc và Phó Thống đốc tỉnh Moscow. Lại gặp và chụp ảnh Phó Thủ tướng Nga. Lại tháp tùng đoàn Việt Nam với một doanh nhân được mời ăn tối và bàn thảo cùng Tổng thống Vladimir Putin.
Nếu tôi có khoe những điều đó ra thì cũng không có gì là khó hiểu cả.
 
Ông Tây đẹp trai bẻ ngô ăn sống ngoài ruộng
Nhưng sau khi viết các bài về nước Nga và vùng băng giá cực kỳ xa xôi Valadivostok thì nhiều bạn đọc viết thư thắc mắc: Thế cuộc sống đích thực, thường ngày và ba cùng với nhân dân Nga vĩ đại và nhân ái, “ông” đã trải qua chưa? Tôi giật mình. Đúng là chưa. Mình là cán bộ “râu ria” đi công tác, cũng được ở khách sạn 5 sao ở Thủ đô của đất nước rộng lớn nhất thế giới. Chứ đã về với dân thật sự lần nào đâu.
Lần này, ngoài lịch trình kín mít với đoàn cấp cao, nhóm phóng viên chúng tôi, qua một móc nối rất tình cờ, đã lạc vào một không gian đậm Nga. Lãng mạn, lịch lãm và mến thương đến nao lòng. Rasul là một người trồng cỏ, gieo hạt ngô chăm sóc hàng nghìn các chị bò sữa theo đúng nghĩa đen. Quá niên trạc khoảng ngũ tuần. Xuề xòa mà tay chơi, mê đắm ủ cỏ chua, vắt sữa bò, sẵn sàng bẻ ngô non bấm ngoài ruộng ăn ngon lành ngọt lịm; nhưng khối thứ xa xỉ ở xứ sở rộng từ lục địa châu Âu sang lục địa châu Á của Nga thì trong nhà Rasun vẫn sưu tầm đủ. Anh biến căn nhà mình thành một cái bảo tàng cho riêng mình, với tình say đắm thiên nhiên và văn hóa tộc người đến khả kính.

Con đường vàng rực lá bạch dương - Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng

 

Rasul đón chúng tôi ở ven một con đường vàng rực lá bạch dương. Đường uốn lượn như dải lụa, vắt ơ hờ qua vô vàn các ruộng ngô mùa trổ hoa đơm bắp. Xa xa bạt ngạt đất bỏ hoang, cỏ nâu cháy đến tận đường chân trời. Thủ đô Nga mang đặc trưng của quốc gia rộng nhất thế giới, cứ thản nhiên cả sáu làn xe chạy chằng chịt qua giữa qua trung tâm. Cái gì cũng to quá cỡ. Chỗ hẹn của chúng tôi, cách điện Kremlin cả tiếng đồng hồ lái xe (nếu không tắc nghẽn). Nhưng đường vẫn thênh thang, nhẵn, siêu xe của giới nhà giàu vẫn gầm rú lao đi với một tốc độ kinh người.
Ưỡn ngực đứng sau hàng bạch dương, bên chiếc xe hai cầu của Nhật Bản khá cũ, Rasul bắt tay từng người. Anh cười hiền khô. Vào ruộng ngô nhé? Tôi nhìn cái xe gầm cũng chẳng cao, lại thấy thấp thểnh gò dốc, lòng hơi hoài nghi. Rasul nổ máy. Xe Nhật, chắc là xuất sang đây với tiêu chuẩn của Nga, nên nó khỏe hơn tôi tưởng nhiều. Rasul bảo chúng tôi bật máy flycame, nhìn từ chín tầng trời mới hiểu: Đồng đất Nga rộng thế nào và bỏ hoang nhiều ra sao. Đó là lý do anh bỏ công sức tái sinh các đồng lúa mạch, ruộng ngô, để góp phần chấn hưng nền nông nghiệp đã từng lừng danh của Liên bang Nga. “Nhìn đất bỏ không, ngẫm nó đau lắm. Tôi muốn được cất lời tạ ơn cánh đồng mỗi ngày”, Rasul nói.
Anh nghiên cứu kỹ từng giống cây con, vạch từng bắp ngô non ra kiểm tra kỹ và hứng lên, bẻ chúng nhai rau ráu trước khi kết luận về kết quả mùa vụ. Dáng cao to, da đỏ au, bụng hơi phệ một chút như hầu hết các ông Tây Âu châu điển hình; nhưng Rasul tinh tế như một thi sỹ hao khuyết thời Trịnh Công Sơn còn hát ca khúc da vàng từ trước Giải phóng miền Nam ở ta vậy. Xe đi ruộng của anh cũ vậy, nhưng “cô em” xe đa dụng ở nhà thì sắc nét và hào hoa vô cùng. Nhà ốp đá, xung quanh bạt ngàn các hàng bạch dương rũ xuống như liễu ven hồ. Anh trồng nhiều cây lá kim mà lá nó ánh lên như tuyết. Phom giếng cổ được phục hồi bằng cách dựng đá hộc, thiết kế mái che với những bùa chú và ký tự cổ, hệ thống ròng rọc xích sắt để quay nước lên. Đúng như phong giếng mà tổ tiên anh đã dùng thuở trước.
Tôi đã lạc vào nhiều “rừng” lê, táo, nho của Nga, Âu châu và thế giới. Nhưng chưa bao giờ cảm giác leo trèo như con cháu Lão Tôn giữa hoang vu Hoa Quả Sơn đầy lãng mạn như ở vườn nhà Rasul. Anh bảo, trồng cây táo thì dễ, tìm được giống táo quý và biết cách tự sự để nó dâng ngọt ngào tinh khiết đích thực cho mình mới là khó. Nằm dài trên cỏ, các nhà báo áo quần nhiều túi thả sức lấy táo, lê làm lương thực dự phòng. Rồi Rasul mang trà truyền thống với đủ các loại hoa quả ướp, tẩm, ngâm, sấy bày kín cả một góc vườn. Vừa chiều hôm trước, nhóm chúng tôi hái táo ở cung điện gỗ nổi tiếng của nước Nga cùng Anh hùng vũ trụ Phạm Tuân và Trung tướng, nguyên Tư lệnh Quân khu IV Nguyễn Quốc Thước; vừa vui đùa trong vườn hoa thơm trái ngọt Đại học Tổng hợp Lô-mô-nô-xốp; vậy mà táo, lê và đủ thứ cây nhà lá vườn của Rasul vẫn khiến chúng tôi phải thổn thức. Anh làm tôi có một cách nghĩ khác về niềm đắm say của người làm vườn. Về cái tình với đất đai. Về sự tinh tế đến tinh quái của những nông phu lắm chữ như Rasul.
Anh sưu tầm biển số xe anh từng sử dụng, sưu tầm áo lông đi tuyết lồm xồm sù sụ rất kỳ dị của những tộc người du mục ở vùng Viễn Đông. Nguyên da, lông, gương mặt răng nanh và sáng quắc mắt dữ dằn của bầy chó sói vùng Bắc Cực được đem ra làm thảm sô-fa (ở Nga, họ cho phép “săn bớt” chó sói, gấu và nhiều loài hoang dã khác phục vụ cuộc sống). Đại bàng, chim ưng nhồi tiêu bản vằn vện “vỗ cánh”, mắt tròn long lanh láu lỉnh trên các góc nhà. Mỗi góc tường, góc cầu thang, có nhiều bức tượng nhỏ, thấy người da đen, da màu hồn nhiên đỡ một nhành hoa, một lọ cảnh, có khi là một buồng chuối chín vàng ruộm. Dọc đường quanh quất ngõ ngách trong khu nhà, là ảnh các thế hệ người thân của Rasul. Có khi treo thêm các bộ áo lông thú, áo giáp sắt hay súng săn lưu niệm các cỡ.

Rasul (bên phải) và bộ trang phục dành cho dân du mục xứ tuyết vùng Seribia, viễn Đông nước Nga

 

Khóc với những người trẻ vị quốc vong thân
Rasul có cả một tủ trưng bày các mô hình, con giống, linh vật mang tên “bò” ở khắp nơi trên thế giới, các giống bò đẹp và khỏe nhất, các loại bò sữa cao sản và quý nhất.

Bộ sưu tập các “con giống” bò và bò sữa mà Rasul trưng bày trong nhà, anh là người say mê nuôi bò sữa nhất mà tôi từng biết

 

Vài nàng bò được anh gắn huân huy chương hay thắt khăn, buộc nơ trông duyên dáng như trong cuộc thi nhan sắc vậy.

 

 

Nhiều năm chăm sóc các nàng bò cho sữa ở Nga, giờ là Giám đốc kỹ thuật cho một tập đoàn bò sữa lớn với nhà máy hiện đại nhất Liên bang Nga, chưa một ngày Rasul chưa mê... bò. Và anh phải lòng “nền văn minh” liên quan đến các loại bò.
Các phòng trưng bày như địa đạo, như “hầm mộ”, từ vũ khí cổ đến súng săn lưu niệm, từ các di vật của cuộc chiến tranh chống Phát xít của Hồng quân Liên Xô đến giáp sắt thời Trung cổ, tất tật, Rasul sưu tầm, trưng bày cho riêng mình.

 

Các di vật chiến trường được trưng bày ở ngoại ô Moscow (Nga), nơi Rasul đang sống

 

Các bức ảnh gia đình từ hồi mới xuất hiện công nghệ chụp ảnh đến giờ, từng giai đoạn cuộc đời và tình yêu, anh đều giữ, phóng to, trưng bày dọc các bờ tường, lối đi. Có cảm giác, tất cả các kỷ vật, các giá trị mà Rasul thích, anh đều cố gắng “hiện vật hóa” nó để trưng bày. Ngắm! Anh bảo, ngôi nhà/ bảo tàng như một cái ao lớn, ở đó có nước trong mát, có sự sum vầy, có dưỡng chất nhiệm màu, còn anh là con cá bơi ở đó. Bơi cùng con cái và tổ tiên.
“Tôi không muốn từng khoảnh khắc cuộc đời trôi đi vô ích và tẻ nhạt. Mỗi vật dụng, kỷ vật ở đây, đều truyền cảm hứng cho tôi vui sống hơn”, anh nói, rồi dẫn khách đi khắp mọi ngõ ngách trong nhà. Duy có phòng cầu nguyện là anh ý tứ bỏ qua. Ở đó có một tấm thảm Ba Tư đẹp lộng lẫy. Khu cầu nguyện quay hướng về Thánh địa Mêch-ca. Bởi Rasul là người Hồi giáo đến từ Nước Cộng hòa Dagestan, thuộc vùng Bắc Kavkaz. Anh liên tục nói lời cảm ơn đất đai và những cánh đồng bao dung chưa bao giờ bội bạc con người. Phòng trưng bày mà anh xúc động nhất, là nơi chứa vũ khí cũ, các mảnh đạn ghỉ, các mũ sắt và súng ống gãy, vài bộ đóng móng và đai yên cương ngựa bằng sắt. Anh bảo, khi cày sâu cuốc bẫm, quản lý mênh mông đồng đất nơi này, anh đã thu lượm các kỷ vật này để lưu giữ. Bởi chúng đến từ các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của người Nga, đặc biệt là các trận huyết chiến chống Phát xít của Hồng quân Liên Xô.
Cả buổi trưa hôm ấy, Rasul đưa chúng tôi đi thăm sự ác liệt của chiến trường... thuở trước. Nhiều ngã tư đường, các khẩu pháo còn giương lên vời vợi, người ta sơn quét bánh pháo màu trắng, dựng bệ trang trọng để “pháo ta trên trời cao” mãi mãi.

 

Đặc biệt ám ảnh là các đỉnh đồi thảm khốc, từng ghi dấu các cuộc chiến anh hùng tột bậc của các thế hệ người trẻ Liên Xô.

 

Rasul như sắp khóc: “Chiếc xe tăng này được trưng bày nguyên trạng, nó nằm nghiêng, vếch bung biêng lên trời sau cuộc chiến đẫm máu. Đây là các mảnh đạn được thu lượm về. Mũ sắt đã ghỉ, súng dài nữa. Bốn bề là pháo. Ảnh các chiến sỹ vẫn còn đây. Họ quá trẻ, chỉ có 10 người mà chống lại một đội quân lớn, họ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng”. Hoa tươi vẫn tỏa hương bên các di ảnh được dán rất giản dị đặt tựa vào vách tường khu tưởng niệm. Từ trong bức ảnh ố cũ, những “anh lính trẻ” mặt búng ra sữa, ánh mắt kiên cường nhìn tất cả chúng tôi.

Rasul bên một khu vực tưởng nhớ các chiến binh đã ngã xuống trong cuộc chiến đánh đuổi phát xít Đức của người Nga

 

Lúc Hồng quân đánh Phát xít ở trước nhà Rasul, lúc móng ngựa rồi mũ sắt mới lạc vào trong cánh đồng cỏ dại mà Rasul cầu nguyện tạ ơn mỗi ngày, lúc ấy bố tôi (người viết bài này) chưa được sinh ra. Nhà tôi cũng cách nơi này cả vạn cây số - những 10 giờ bay dằng dặc. Vì thế, các cuộc chiến quả cảm của những người anh hùng Liên Xô tôi chỉ biết qua phim ảnh, sử sách. Để rồi hôm ấy, bàn tay chụp ảnh của chúng tôi như run lên vì xúc động. Sự hy sinh như sờ thấy được, các “cậu bé” non tơ này đã đem sự sống - dòng máu nóng máu kiêu hùng quả cảm - của mình ra để bảo vệ non sông, để chống lại thảm họa Phát xít cho cả loài người.
 
Bà mẹ Nga hằng ngày trò chuyện với một cái cây
Tất cả lặng đi, còn Rasul vẫn vâm váp, lái chiếc xe cũ đè lên cỏ lác. Xe dạng chân đi giữa lùm lùm cây cỏ. Anh dẫn chúng tôi vào thăm một cái cây cổ thụ. “Tôi đã giữ lại cái cây, nó là chứng tích anh hùng, là tình người thổn thức. Nó là một tượng đài cần phải trưng bày, các bạn ạ”. Anh đi bộ, rẽ cỏ, dặn chúng tôi tránh xa những cái lá han chằng chịt giữa lối mòn hoang hóa. Nó chạm vào vùng da nào, thì bỏng như bị dội nước sôi ấy. Anh kể, đang vỡ đất trồng ngô ở khu vực hàng trăm héc-ta nguyên liệu nuôi bò sữa này, thì có một người thợ săn đến bảo: “Rasul, tôi biết anh. Hãy tắt máy. Ta nói chuyện”. Anh ta kể, cái cây to kia kìa, đừng có chặt đi. Bởi nó là do một bà mẹ già trồng và chăm sóc suốt nửa thế kỷ qua, cho đến khi bà tắt thở. Bà chết và con đường vào với cái cây mới bị bỏ hoang. Trước ngày nào bà cũng vào trò chuyện với con trai mình ở gốc cây giữa đồng. Bà có người con trai độc nhất là phi công lái máy bay chiến đấu. Trong trận không chiến chống Phát xít Đức, anh cùng chiếc máy bay đã rơi xuống góc rừng này và bốc cháy. Bà mẹ không tìm được thi thể con, bèn trồng một cái cây giữa khoảng rừng cháy đầy xác máy bay. Và bà tin chắc, cái cây đó sẽ chứa linh hồn đứa con thân yêu mà bà quý hơn cả máu thịt mình. Nhiều dân tộc trên thế giới cũng có quan niệm như vậy. Mỗi khi có ai đó “về trời”, thì họ trồng một cái cây “thế chỗ”. Rồi chăm sóc cái cây ấy trọn đời.
Đi tìm hiểu, đứng mặc niệm trước mộ của người mẹ đặc biệt kia, Rasul hứa, sẽ bảo vệ “đứa con” đang hằng ngày lớn lên và tỏa bóng mát trên đồng đất nước Nga của Người mẹ Anh hùng.
Rasul ôm mỗi chúng tôi rất chặt và cầu nguyện cho ngày gặp lại. Anh gọi một cô gái trẻ má lúm đồng tiền, trùm khăn trắng ngà ra chào khách. Vẻ đẹp của thôn nữ Hồi giáo xứ Dagestan làm chúng tôi ngỡ ngàng. Anh ôm đầu, khoác vai và áp má mình vào má cô bé rất chặt cho chúng tôi chụp ảnh. Bên cạnh là một cậu trẻ. “Đây là con dâu tôi, đây là con trai tôi”, Rasul giới thiệu và họ lại ôm nhau, ở cùng nhà, mà cứ như lâu lắm rồi mới gặp.
Đường về, có người trong chúng tôi đã buột miệng: Nếu là mình, có khi không dám ôm con dâu chặt thế, sợ thiên hạ hiểu lầm. Nhưng, không thể lấy văn hóa cư xử của người Dagestan với người Việt Nam “lề lối phong kiến” để so sánh. Còn tôi, cảm nhận sâu sắc được niềm lạc quan, sự trân trọng từng phút giây cuộc đời của Rasul. Anh đã cầu nguyện đức Tối cao, đã tạ ơn cánh đồng cho mùa vàng và đất mẹ sinh sôi. Anh coi cây táo, cây lê trong vườn nhà có linh hồn và cần phải cưng nựng nó, để thiên nhiên nhiệm màu biến đất, nước và gió trở thành vườn hoa thơm với mùa quả ngọt. Anh coi con dâu như con gái. Anh mặc niệm trước phần mộ người mẹ của anh phi công kia, với giọt nước mắt chân thành nhất. Anh không muốn cái mũ sắt, cái ốp đóng móng ngựa thêm ghỉ và biến vào trong đất đai, dẫu anh cũng chẳng biết “đồ chiến tranh” ấy là trang thiết bị của các chiến binh của bên “ta” hay bên “địch”. Cái gì của lịch sử thì hãy trả nó về cho lịch sử. Và hãy trân trọng lịch sử, vì dù thế nào thì nó cũng là điểm tựa quá khứ mà chúng ta không có lựa chọn nào khác để bước tới tương lai. Rasul nói.
Từ nhỏ, bố tôi, rồi chúng tôi đều thích Pavel Korchagin, nhân vật tiểu thuyết đến từ nước Nga thời trước, trong cuốn “Thép đã tôi thế đấy” của văn hào Nga Nikolai A. Ostrovsky. Cái lý tưởng sống người ta hay nhắc ở sách này, phim này, chính là: Hãy “hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời” và làm sao để ta “khỏi (phải) xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài, sống phí”. Chỉ gặp vài ngày, Rasul đã khiến tôi nghĩ đến một nông dân Nga thời mới: Trí tuệ, mơ mộng, yêu tri thức và mỗi ngày đều nói lời tạ ơn thiên nhiên nhiệm màu. Họ đã sống đầy bao dung và khát khao tận hiến, để gặn chắt tri ân từng sát na của Đời.
Đỗ Doãn Hoàng
Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

tối thiểu 10 chữ tiếng Việt có dấu không chứa liên kết

Tin cùng chuyên mục
Tin Mới Nhất
lên đầu trang