Phan Bội Châu với Tiếng dân

21/02/18 09:01
LDNA+
Sau 20 năm (1905-1925) ly biệt gia đình và quê hương trải bước khắp mọi chân trời Đông Á quyết tìm đường giải phóng cho dân cho nước, Phan Bội Châu trở về đất Việt với án tử hình của toà án thực dân. Nhờ sức đấu tranh của nhân dân và sinh viên cả nước, chính quyền thuộc địa buộc phải giảm án và đưa cụ về quản thúc tại Huế. Trong tình thế ấy, cụ chỉ còn một cách để giao tiếp với đồng bào, đồng chí, để tiếp tục sứ mệnh cao cả còn dang dở. Đó là làm báo, viết văn.
Mười lăm năm bị giam lỏng (1925-1940), cụ đã cộng tác viết bài cho 35 tờ báo trong cả nước. Do bài của cụ luôn bị kiểm duyệt gay gắt, văn báo của cụ vì vậy không còn tính chất quyết liệt như thời kỳ trước, nhưng không bao giờ xa rời mục đích vì dân vì nước suốt đời cụ theo đuổi.
Tiếng dân là tờ báo cụ gắn bó thân thiết từ khi mới xuất bản (tháng 8/1927) đến lúc cụ lâm chung (1940). Phan Bội Châu cộng tác nhiều nhất với Tiếng dân vừa là do tôn chỉ, mục đích cao cả của tờ báo, vừa là nghĩa tình chung thuỷ với Huỳnh Thúc Kháng - đồng chí cách mạng của cụ - người chủ trương và là chủ bút của tờ báo. Cụ Huỳnh ở tù Côn Đảo 14 năm (1908-1921) trở về là lao vào hoạt động nghị trường và báo chí tiếp tục đấu tranh. Hai cụ thường gặp nhau trao đổi. Đầu tiên là chuyện tên tờ báo. Bấy giờ, ngôn bản ở nước ta vẫn còn coi chữ Hán là quan trọng. Tên một tờ báo càng quan trọng. Khắp nơi trong nước đặt tên báo thường dùng từ Hán Việt: Nào là Tân Việt Nam, Công luận, Trung Kỳ tuần báo… Rất hiếm tờ báo đặt tên thuần Việt. Ban đầu cụ Huỳnh chọn tên tờ báo là Trung thanh nghĩa là tiếng nói trung thực, vừa có nghĩa là tiếng nói miền Trung. Sau đó cụ muốn dùng hai chữ Dân thanh, nghĩa là tiếng nói của dân. Cụ Huỳnh trao đổi với cụ Phan. Cụ Phan nói: “Đã nói Dân thanh thì chi bằng nói quách là Tiếng dân”. Thế là tờ báo Tiếng dân ra đời.
Theo thống kê của chúng tôi từ Phan Bội Châu toàn tập (tập 7 và 8), số bài báo cụ Phan đăng trên 35 tờ báo cả nước là 328 bài. Riêng tờ Tiếng dân đã đăng 251 bài. Số lượng ấy nói được sự quan tâm thường xuyên của cụ Phan với Tiếng dân.

Cụ Phan Bội Châu (1867-1940)

Trong bài đầu tiên: Chào mừng báo Tiếng dân (số 10/8/1927), cụ Phan đã thay mặt độc giả phát đi cách giải thích sự ra đời “kỳ quái” và ý nghĩa của Tiếng dân. Theo cụ: Mấy nghìn năm nước tổ, hơn sáu triệu đồng bào (Trung Kỳ) có phải thằng câm con ngọng cả đâu!”. Sao bây giờ mới có Tiếng dân? Nhưng xét nguồn gốc “việc đó chẳng kỳ quái gì”. Bởi rằng hàng nghìn năm lịch sử, mấy mươi triệu con em, phần nhiều rặt là ngựa trâu bị quyền bề trên đè quá nặng, “có một cặp miệng trời cho chỉ vâng vâng dạ dạ là đúng bổn phận”… “trót một kiếp người có miệng đã không phúc nói, có tai lại không duyên nghe… Ôi! Dân mà không có tiếng còn sung sướng gì dân này. Tiếng mà không phải (tiếng của) dân còn trông mong gì tiếng đó”. Đó là cái tai họa từ xưa đến nay khi nhà cầm quyền trương ngọn cờ “dân vi bản” mà trên thực tế tiếng nói của dân bị chìm nghỉm trước quyền uy độc tài chuyên chế. Lần đầu trong lịch sử, có tờ báo phát đi tiếng nói của dân. “Dân nước ta đã mấy nghìn năm câm, bây giờ mới nói”. Mừng nhưng cũng lo cho Tiếng dân “sống lâu hay thác”. Câu trả lời là nơi tâm huyết của đồng bào.
Với 251 bài trên Tiếng dân, cụ trung thành phát đi tiếng nói của người dân, mà trước hết là người bình dân lao động… Nhưng theo cụ phải nhận rõ trạng huống “bình dân” ở xứ ta (số 11/4/1936). Thời nay cũng như thời đó, trong trào lưu cạnh tranh “một dân tộc, một quốc gia thịnh suy… quan hệ tại phần đại đa số, tức là hạng người bình dân”. Ấy thế nhưng bình dân ở xứ ta “đầu tắt mặt tối, bán sức nuôi thân, mồ hôi nước mắt đổi lấy bát cơm tấm áo không rồi”, lại còn bị “nạn tham nhũng bóc lột, phù thu lạm bổ, lạm quyền trái phép của bọn quan chức” xâu xé trăm đường. Nếu không “vạch cho họ giác ngộ” những điều đó, “sau mới dẫn tiến lên đường mới” mà chỉ “đem những học thuyết cao xa kêu gào hàng ngày” thì “nói gần bình dân mà kỳ thực cách xa họ muôn ngàn dặm”. Nhận định này của Phan Bội Châu 80 năm trước trên Tiếng dân còn có ý nghĩa đến ngày nay. Mọi phương cách muốn cắt giảm phương tiện truyền thông chính đáng tiếng nói của người dân đều là sự chuyển hóa về hướng bảo thủ, tiêu cực. Đầu năm 2018, Thủ tướng Chính phủ trong một bài trên báo Đại đoàn kết (12/1/2018) đã cảnh báo: “Xa dân là mất dân”. Mà mất dân là mất tất cả.
Từ năm 1927 đến 1939, nhiều năm cụ Phan có bài chúc mừng kỷ niệm báo Tiếng dân: Tiếng dân giữ gìn linh khí 4000 năm nước cũ (số 15/10/1928); giúp người dân “biết đau khổ mới tìm phương cứu giải” (số 14/8/1929). “Tiếng dân chuông trống ngoại 10 năm… Ao ước trời cho dân sống mãi…” (số 25/8/1938).
Trên Tiếng dân, Phan Bội Châu viết về nhiều chủ đề: Có tâm trạng buồn tủi, có niềm vui và lòng tin nơi thế hệ phường hậu tử, cùng nỗi thương nhớ các chiến hữu đã hy sinh… Nhưng cụ để tâm trí nhiều nhất vào việc cất lên tiếng nói của tầng lớp bình dân lao động. Theo cụ, Tiếng dân của lớp người này mới thực sự là tiếng dân đúng nghĩa. Trong lớp người lao động “dưới đáy” này, cụ nói về người dân cày chịu nhiều đày đọa đến từ cả thiên họa và nhân họa. Cụ nói: Người lượm phân (số 02/12/1927), nói về Con trâu, Cái cày, Trai cày thuê… (số 22/7/1933). Rồi, Dân bị bão lụt kêu trời (số 08/12/1934), Nạn gạo kém (số 27/5/1938). Nhà nông phải đi lặn vớt rong, lặn lấy cát: Nuôi miệng đành liều nắng với giông (số 27/10/1938)… Cụ thương xót kêu lên Tiếng dân của người Phu quét đường (số 04/5/1929), Người phu xe (số 11/01/1933), Người bán bánh rao (số 22/11/1933)…
Tiếng dân đã cùng cụ trải “nỗi niềm non nước” với quốc dân, đồng bào. Tiếng dân cũng là nơi cụ vơi bớt buồn đau trong mười mấy năm trời khi trở về nước tổ mà vẫn nặng lòng kiếp sống tha hương. Quê Nghệ là niềm day dứt không nguôi trong hồn người xa xứ: “Con đường Vinh - Huế chẳng bao xa/ Bảy tám năm trời vắng thấy ta”. Muốn “Hóa thân làm ngọn gió Nam/ Thổi miết một hơi về tận Nghệ”… (số 05/7/1933).
Toà soạn Tiếng dân thường thông báo tình hình sức khoẻ của cụ Phan để đồng bào được biết. Khi cụ sắp mất, cụ Huỳnh đến đọc điếu văn soạn sẵn để viếng sống cụ. Nghe xong, đang hấp hối, cụ Phan dần dần tỉnh lại và sống thêm được một tuần. Cụ mất ngày 29/10/1940. Từ đó, toà soạn Tiếng dân hàng năm nghỉ ngày này để tưởng niệm Sào Nam Phan Bội Châu.
Lê Văn Tùng
Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

tối thiểu 10 chữ tiếng Việt có dấu không chứa liên kết

Tin cùng chuyên mục
Tin Mới Nhất
lên đầu trang