hỏi đáp

Gửi câu hỏi đến cho chúng tôi

Những mục đánh dấu (*) là những nội dung bắt buộc nhập

Họ tên: (*)

Địa chỉ:

Số điện thoại:

Email: (*)

Nội dung câu hỏi (*)

Mã xác nhận (*)

Chữ xác nhận (*)

Đã bổ sung thêm hình thức xét nâng ngạch công chức

Câu hỏi:
Có phải Luật sửa đổi đã bổ sung thêm hình thức nâng ngạch công chức là xét nâng ngạch?  Vậy trường hợp nào công chức được xét nâng ngạch?  Điều kiện được xét nâng ngạch công chức Công chức như thế nào?

Người gửi: Phamthanht

Trả lời:

Nâng ngạch công chức là một trong những chính sách được nhiều công chức quan tâm hiện nay. Nếu như trước đây, việc nâng ngạch công chức chỉ được thực hiện thông qua thi tuyển thì từ ngày 01/7/2020, Luật sửa đổi một số điều của Luật cán bộ công chức, Luật viên chức có hiệu lực, đã bổ sung thêm 01 hình thức nâng ngạch công chức là xét nâng ngạch công chức. 

Cụ thể, khoản 8 Điều 1 Luật sửa đổi 2019 nêu rõ: "Việc nâng ngạch công chức phải căn cứ vào vị trí việc làm, phù hợp với cơ cấu ngạch công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị và được thực hiện thông qua thi nâng ngạch hoặc xét nâng ngạch"

Như vậy, mặc dù vẫn căn cứ vào vị trí việc làm, phù hợp cơ cấu ngạch công chức nhưng hiện nay, việc nâng ngạch công chức được thực hiện theo 02 hình thức: Thi và xét nâng ngạch.

1. Có 02 trường hợp công chức được xét nâng ngạch

Theo khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi 2019, có 02 trường hợp được xét nâng ngạch công chức:

- Có thành tích xuất sắc trong hoạt động công vụ khi giữ ngạch công chức hiện giữ, được cấp có thẩm quyền công nhận;

- Được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý gắn với yêu cầu của vị trí việc làm.

Trong đó, yêu cầu về thành tích xuất sắc trong hoạt động công vụ gồm các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng theo công trạng và thành tích đạt được trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức và được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 31 Nghị định 138/2020/NĐ-CP như sau:

- Nâng từ ngạch nhân viên lên cán sự; từ ngạch cán sự lên chuyên viên: Được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và 02 lần đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở;

- Nâng ngạch từ chuyên viên lên chuyên viên chính: Được khen thưởng Huân chương Lao động hạng Ba và đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp Bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương;

- Nâng ngạch từ chuyên viên chính lên chuyên viên cao cấp: Được khen thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất hoặc đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc.

2. Điều kiện được xét nâng ngạch công chức

Theo khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi 2019, công chức phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện sau đây thì được xét trong 02 trường hợp nêu trên:

- Xếp loại chất lượng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong năm công tác liền kề trước năm xét nâng ngạch;

- Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; không trong thời hạn xử lý kỷ luật, không trong thời gian thực hiện các quy định liên quan đến kỷ luật;

 - Có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đảm nhận vị trí việc làm tương ứng với ngạch công chức cao hơn ngạch công chức hiện giữ trong cùng ngành chuyên môn;

- Đáp ứng yêu cầu về văn bằng, chứng chỉ của ngạch công chức xét nâng ngạch. Trong đó, có bằng tốt nghiệp chuyên môn đã chuẩn đầu ra về ngoại ngữ hoặc tin học mà tương ứng với yêu cầu của ngạch xét nâng ngạch thì đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn ngoại ngữ, tin học (căn cứ điểm c khoản 2 Điều 30 Nghị định 138/2020/NĐ-CP).

Đặc biệt: Theo khoản 4 Điều 70 Nghị định 138/2020/NĐ-CP, người đứng đầu cơ quan quản lý công chức quyết định đặc cách xét nâng ngạch công chức nếu công chức đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện của ngạch cao hơn liền kề trong cùng ngành chuyên môn với ngạch hiện giữ mà không yêu cầu về thời gian giữ ngạch trong trường hợp:

- Có thành tích đặc biệt xuất sắc trong hoạt động công vụ;

- Được xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong 03 năm liên tiếp kể từ ngày có quyết định tuyển dụng.

Lưu ý: Cơ quan quản lý công chức chịu trách nhiệm trước pháp luật về tiêu chuẩn, điều kiện của công chức được xét nâng ngạch (căn cứ khoản 4 Điều 31 Nghị định 138/2020/NĐ-CP).

 Trên đây là các quy định mới nhất về xét nâng ngạch công chức đang áp dụng hiện nay.

Đơn vị trả lời: BAN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT - QUAN HỆ LAO ĐỘNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH NGHỆ AN (ĐT: 09 1974 2006; 0375 037 037)

CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG

Hỏi: Tôi ký hợp đồng lao động (HĐLĐ) với Công ty X, trong hợp đồng, hai bên thỏa thuận sẽ trả tiền lương theo giờ. Xin hỏi: các hình thức trả lương hiện nay được pháp luật quy định như thế nào? Hình thức trả tiền lương giờ được xác định như thế nào? Nếu trả lương qua tài khoản thì ai phải trả các loại phí liên quan? 

Người gửi: Linh

Trả Lời
Theo Điều 96 Bộ luật Lao động và Điều 54 Nghị định 45/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định hình thức trả lương như sau:

1. Về các hình thức trả lương:

a) Người sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ) thỏa thuận về hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán.

b) Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của NLĐ  được mở tại ngân hàng.

2. Căn cứ vào tính chất công việc và điều kiện sản xuất, kinh doanh, NSDLĐ và NLĐ thỏa thuận trong HĐLĐ các hình thức trả lương: theo thời gian, theo sản phẩm và trả lương khoán, cụ thể như sau:

a) Tiền lương theo thời gian 

Được trả cho NLĐ hưởng lương theo thời gian, căn cứ vào thời gian làm việc theo tháng, tuần, ngày, giờ theo thởa thuận trong HĐLĐ, cụ thể:

- Tiền lương tháng được trả cho một tháng làm việc;

- Tiền lương tuần được trả cho một tuần làm việc. Trường hợp HĐLĐ thỏa thuận tiền lương theo tháng thì tiền lương tuần được xác định bằng tiền lương tháng nhân với 12 tháng và chia cho 52 tuần;

- Tiền lương ngày được trả cho một ngày làm việc. Trường hợp HĐLĐ thỏa thuận tiền lương theo tháng thì tiền lương ngày được xác định bằng tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng theo quy định của pháp luật mà doanh nghiệp lựa chọn. Trường hợp HĐLĐ thỏa thuận tiền lương theo tuần thì tiền lương ngày được xác định bằng tiền lương tuần chia cho số ngày làm việc trong tuần theo thỏa thuận trong HĐLĐ;

- Tiền lương giờ được trả cho một giờ làm việc. Trường hợp HĐLĐ thỏa thuận tiền lương theo tháng hoặc theo tuần hoặc theo ngày thì tiền lương giờ được xác định bằng tiền lương ngày chia cho số giờ làm việc bình thường trong ngày theo quy định như sau về thời giờ làm việc bình thường:

+ Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.

+  NSDLĐ có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho NLĐ biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.

 b. Tiền lương theo sản phẩm:

Được trả cho NLĐ hưởng lương theo sản phẩm, căn cứ vào mức độ hoàn thành số lượng, chất lượng sản phẩm theo định mức lao động và đơn giá sản phẩm được giao.

c. Tiền lương khoán:

Được trả cho NLĐ hưởng lương khoán, căn cứ vào khối lượng, chất lượng công việc và thời gian phải hoàn thành.

3. Trả lương qua tài khoản

Tiền lương của NLĐ theo các hình thức trả lương theo quy định được trả bằng tiền mặt, hoặc trả qua tài khoản cá nhân của NLĐ được mở tại ngân hàng. Nếu trả lương qua tài khoản, thì NSDLĐ phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương khi chọn trả lương qua tài khoản cá nhân của NLĐ. 

Đơn vị trả lời: BAN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT - QUAN HỆ LAO ĐỘNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH NGHỆ AN (ĐT: 09 1974 2006; 0375 037 037)

Các trường hợp được làm thêm từ trên 200 đến 300 giờ trong 01năm

 
Hỏi: Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi nào?Các trường hợp nào được tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm? Cơ sở khám chữa bệnh của chúng tôi có được áp dụng việc làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm đối với dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh hay không?

Người gửi: (nguyenduckien...@gmail.com)

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Lao động, và Điều 61 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ về làm thêm giờ như sau: 

I. Làm thêm giờ:là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động.

II. Người sử dụng lao động (NSDLĐ) được sử dụng người lao động (NLĐ) làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây:

1. Phải được sự đồng ý của NLĐ;

2. Bảo đảm số giờ làm thêm của NLĐ không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng;

3. Bảo đảm số giờ làm thêm của NLĐ không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.

III. NSDLĐ được sử dụng NLĐ làm thêm không quá 300 giờ trong 01 năm trong một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây:

1. Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản;

2. Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;

3. Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời;

4. Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yêu tố khách quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyên sản xuất;

5. Các trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoàn phát sinh từ các yếu tố khách quan liên quan trực tiếp đến hoạt động công vụ trong các cơ quan, đơn vị nhà nước, trừ các trường hợp quy định tại Điều 108 của Bộ luật Lao động.

6. Cung ứng dịch vụ công; dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; dịch vụ giáo dục, giáo dục nghề nghiệp.

7. Công việc trực tiếp sản xuất, kinh doanh tại các doanh nghiệp thực hiện thời giờ làm việc bình thường không quá 44 giờ trong một tuần.

IV. Khi tổ chức làm thêm giờ theo quy định tại khoản 3 Điều này, NSDLĐ phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Như vậy, căn cứ các quy định trên, dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh là một trong những trường hợp được áp dụng việc làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm. 

Đơn vị trả lời: BAN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT - QUAN HỆ LAO ĐỘNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH NGHỆ AN (ĐT: 09 1974 2006; 0375 037 037)

THƯ VIỆN ẢNH

LIÊN KÊT WEBSITE

SỐ LƯỢNG TRUY CẬP